Phân tích đặc điểm của QHPL hành chính và so sánh với QHPL hình sự


I.         MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN

Quy phạm pháp luật Luật hành chính là một dạng cụ thể của quy phạm pháp luật, được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý hành chính theo phương pháp mệnh lệnh – đơn phương.

Quy phạm Hiến pháp là những quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận để điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng gắn với việc xác định chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chính sách văn hóa- xã hội, quốc phòng và an ninh, đối ngoại, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

II.     PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM CỦA QUY PHẠM PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH QUA ĐÓ PHÂN BIỆT QUY PHẠM PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH VÀ QUY PHẠM PHÁP LUẬT HIẾN PHÁP
1.       Đặc điểm chung của QPPL hành chính

Như đã nói ở trên, QPPL hành chính là một dạng cụ thể của QPPL nên các QPPL hành chính có đầy đủ các đặc điểm chung của QPPL như sau:

–            Là quy tắc xử sự chung thể hiện ý chí của nhà nước;

–            Được nhà nước đảm bảo thực hiện. Ví dụ: khi tham gia giao thông đường bộ, nếu người tham gia dừng xe mà không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết thì sẽ bị xử lí phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng theo nghị định 34/2010/NĐ- CP ngày 02 tháng 04 năm 2010.

–            Là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người về tính hợp pháp. Căn cứ vào QPPL hành chính, ta có thể xác định được hành vi nào là hợp pháp, hành vi nào là trái pháp luật, hoạt động nào mang tính pháp lí và hoạt động nào không mang tính pháp lí. Ví dụ: khi ban hành văn bản QPPL, dựa vào Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND ngày 3 tháng 12 năm 2004, UBND sẽ xác định được hình thức của văn bản mình có thẩm quyền ban hành đó là quyết định, chỉ thị. Nếu UBND ban hành nghị quyết thì điều này sẽ là trái với việc quy định của pháp luật.

2. Đặc điểm riêng của QPPL Hành chính

a.            Các quy phạm pháp luật hành chính chủ yếu do cơ quan hành chính nhà nước ban hành.

Ở nước ta, theo quy định của pháp luật hiện hành thì các cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành quy phạm pháp luật hành chính có thể là chủ thể lập pháp hoặc chủ thể quản lý hành chính nhà nước vì những lí do sau đây:

–                Hoạt động lập pháp của Quốc hội, UBTVQH theo cơ chế thảo luận tập thể, quyết định theo đa số không đủ đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các quan hệ quản lý hành chính nhà nước một cách năng động, kịp thời.

–                Quốc hội, UBTVQH không có chức năng quản lý hành chính nhà nước do đó khó có thể ban hành các quy phạm pháp luật hành chính một cách cụ thể và phù hợp với thực tiễn quản lý từng nghành, lĩnh vực và địa phận.

–                 Việc quy định thẩm quyền ban hành quy phạm pháp luật cho một số chủ thể quản lí hành chính nhà nước mà trước hết và chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước , người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước còn phù hợp với yêu cầu về tính chủ động, sáng tạo trong quản lý hành chính nhà nước.

b.            Các quy phạm pháp luật hành chính có số lượng lớn và có hiệu lực pháp lý khác nhau.

Do phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật hành chính rất rộng và tính chất đa dạng về chủ thể ban hành nên các quy phạm pháp luật hành chính có số lượng lớn. Trong đó có những quy phạm có hiệu lực pháp lý trên phạm vi cả nước và chung cho các ngành, lính vực quản lí nhưng cũng có những quy phạm chỉ có hiệu lực trong phạm vi một ngành, một lĩnh vực quản lí hay trong một địa phương nhất định.

c.             Các quy phạm pháp luật hành chính được hợp thành một hệ thống trên cơ sở các nguyên tắc pháp lí nhất định.

Do yêu cầu điều chỉnh thống nhất pháp luật trong quản lí hành chính nhà nước, các quy phạm pháp luật tuy có số lượng lớn và có hiệu lực pháp lý khác nhau song chúng cần phải hợp thành một hệ thống.

Các chủ thể có thẩm quyền ban hành các quy phạm pháp luật hành chính có trách nhiệm tuân thủ các nguyên tắc pháp lý thống nhất sau:

–                Các phạm pháp luật hành chính do cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước cấp trên ban hành. Chẳng hạn như: UBND Thành phố Hà Nội ban hành Quyết định Ban hành Quy định trách nhiệm quản lý chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn thành phố căn cứ Luật tổ chức Hội Đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26/11/2003.

–                Các quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan hành chính nhà nước, Chủ tịch nước, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của quy phạm pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành.

–                Các quy phạm pháp luật hành chính do người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của quy phạm pháp luật do tập thể cơ quan đó ban hành.

–                Bảo đảm tính thống nhất, phù hợp giữa các quy phạm pháp luật hành chính do các chủ thể có thẩm quyền ngang cấp, cùng địa vị pháp lí ban hành.

Cụ thể là:

+  Các chủ thể có thẩm quyền ban hành quy phạm pháp luật hành chính có trách nhiệm kiểm tra và bảo đảm tính thống nhất, phù hợp giữa các quy phạm pháp luật hành chính hiện hành do mình ban hành;

+  Các chủ thể có thẩm quyền ban hành quy phạm pháp luật hành chính cso trách nhiệm tôn trọng thẩm quyền ban hành pháp luật của chủ thể khác ngang cấp, cùng địa vị pháp lí với mình;

+  Các chủ thể có thẩm quyền ban hành quy phạm pháp luật hành chính ngang cấp, cùng địa vị pháp lí có trách nhiệm chủ động bàn bạc, phối hợp trong công tác ban hành pháp luật, phát hiện cà xử lí các văn bản quy phạm pháp luật sai trái.

–                Các quy phạm pháp luật hành chính phải được ban hành theo đúng trình tự , thủ tục và dưới hình thức nhất định do pháp luật quy định.  

I.               Phân biệt quy phạm pháp luật hành chính với quy phạm pháp luật hiến pháp.
1.            Phạm vi tác động.

Quy phạm pháp luật hành chính là một dạng cụ thể của quy phạm pháp luật, được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lí hành chính theo phương pháp mệnh lệnh đơn phương .

Quy phạm pháp luật hiến pháp là những quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất, quan trọng nhất trong các lĩnh vực kinh tế , văn hóa, xã hội…

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng quy phạm luật hiến pháp rộng hơn quy phạm pháp luật hành chính,bao trùm tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Còn quy phạm pháp luật hành chính là dạng quy phạm cụ thể, chi tiết hóa quy phạm luật hiến pháp.

Trong quy phạm luật hiến pháp là quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành nên đặt ra yêu cầu thực hiện đối với tất cả các chủ thể. Cụ thể như, tại điều 74 Hiến pháp 1992

 “Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào.

Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định.

…”

Như vậy, bất cứ ai là người mang quốc tịch Việt Nam( trừ trường hợp bị hạn chế quyền công dân) đều có quyền khiếu nại, tố cáo.

Trong quản lí hành chính nhà nước, các chủ thể quản lí nhà nước cần đến quy phạm pháp luật để định ra các khuôn mẫu xử sự chung cho nhiều cá nhân, tổ chức (đối tượng quản lí) trong những tình huống được dự liệu trước và có thể lặp lại nhều lần trong thực tiễn.

Ví dụ như theo điều 2 luật khiếu nại tố cáo năm 1998 quy định:

+ “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do luật định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính hoặc quyết định kỉ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

+ Tố cáo là việc công dân theo thủ tục này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”.

Từ đó có thể thấy, chủ thể quyền khiếu nại của công dân, cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức có quyền lợi bị xâm hại bởi một quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỉ luật cán bộ, công chức hoặc người đại diện hợp pháp của những người này khi họ thực hiện quyền khiếu nại. Còn chủ thể quyền tố cáo là công dân dù có liên quan hay không liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật là đối tượng của việc tố cáo. Như vậy, chỉ có những chủ thể này mới có thể thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo. Và chỉ khi các chủ thể này thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo thì cơ quan hành chính có thẩm quyền mới giải quyết.

2.            Về chủ thể ban hành.

–                Về chủ thể ban hành quy phạm pháp luật hành chính:

Các qui phạm pháp luật hành chính chủ yếu do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành.

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì các cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành quy phạm pháp luật hành chính có thể là chủ thể lập pháp hoặc chủ thể quản lí hành chính nhà nước. Tuy nhiên chủ yếu vẫn do các cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành trên cơ sở cụ thể hóa, chi tiết hóa các qui định của hiến pháp, luật, pháp lệnh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước.

Quy phạm pháp luật hành chính do các cơ quan quyền lực nhà nước ban hành.

Quy phạm pháp luật hành chính do Chủ tịch nước ban hành: Lệnh, Quyết định.

Quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành: Nghị quyết, nghị định của Chính phủ; Quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ.

Quy phạm pháp luật hành chính do Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành: Quyết đinh, chỉ thị, thông tư.

– Về chủ thể ban hành quy phạm pháp luật hiến pháp.

Các qui phạm pháp luật hiến pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành như: Quốc hội, Uỷ ban thường vụ quốc hội

Quy phạm pháp luật hiến pháp do Quốc hội ban hành như: Hiến pháp, luật, nghị quyết.

Quy phạm pháp luật hiến pháp do Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành như: Pháp lệnh, nghị quyết.

Tóm lại, Quy phạm pháp luật hiến pháp do các cơ quan quyền lực nhà nước ban hành, còn Quy phạm pháp luật hành chính chủ yếu do cơ quan hành chính nhà nước ban hành.

3.            Nội dung của quy phạm.

Quy phạm pháp luật hành chính xác định thẩm quyền quản lí hành chính nhà nước: quy định các quyền và nghĩa vụ pháp lí cụ thể; quy định các biện pháp khen thưởng và cưỡng chế hành chính. Chẳng hạn quy định về nghĩa vụ lao động công ích của công dân.

Quy phạm luật hiến pháp quy định những vấn đề quan trọng, cơ bản trong tất cả các lĩnh vực, không xác định quyền và nghĩa vụ cho bất kì một cá nhân, tổ chức nào. Như điều 1 hiến pháp năm 1992 quy định: Nước CHXHCN Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời.

  1. 4.            Vai trò của quy phạm.

Quy phạm luật hiến pháp quy định về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trong trạng thái ổn định (trạng thái tĩnh ) do quy phạm hiến pháp quy định và điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản, quan trọng trong nhiều lĩnh vực. Ngoài ra, quy phạm hiến pháp còn xác lập các nguyên tắc pháp lí cho việc tổ chức và hoạt động của Nhà nước

Quy phạm luật hành chính quy định về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trong trạng thái không ổn định (trạng thái động ) do quy phạm luật hành chính cụ thể hóa quy phạm luật hiến pháp để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động chấp hành – điều hành của nhà nước. Nó tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động pháp lý của các cơ quan hành chính nhà nước cho quá trình thực thi công vụ của cán bộ công chức nhà nước, góp phần vào việc đảm bảo cho việc thực hiện quyền nghĩa vụ hành chính của tổ chức cá nhân được diễn ra bình thường và  nhịp nhàng  nhằm duy trì trật tự hành chính, là cơ sở cho nhân dân tham gia vào hoạt động hành chính với những hình thức ngày càng phong phú, là phương tiện tác động lên nhận thức hành vi của đối tượng quản lý

5.            Giá trị pháp lý.

Quy phạm luật hành chính có giá trị pháp lí thấp vì chúng được sửa đổi hoặc bãi bỏ bởi tất cả các cơ quan trong bộ máy nhà nước.

Quy phạm luật hiến pháp có giá trị pháp lí pháp lí cao, ổn định và chỉ có Quốc Hội, UBTVQH có quyền sửa đổi, bổ sung quy phạm luật hiến pháp. Trong đó phải có ít nhất 2/3 đại biểu Quốc Hội tán thành thì mới có thể sửa đổi bổ sung hiến pháp.

Nguồn: http://www.doko.vn/tai-lieu/phan-tich-dac-diem-cua-quan-he-phap-luat-hanh-chinhva-so-sanh-voi-quan-he-phap-luat-hinh-su-202345

  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: