Bài tập học kỳ môn Luật Đất đai (8 điểm)


 Nguồn: http://www.doko.vn/tai-lieu/Bai-tap-lon-mon-luat-dat-dai-8d-161683

TÌNH HUỐNG

Năm 2001, ông A mua 3 ha ruộng đất. Năm 2002, ông A góp 3 ha ruộng đất này vào hợp tác xã. Năm 2007, hợp tác xã giải thể và chính quyền địa phương chia ruộng cho các hộ gia đình nhận khoán, nhưng ông A và 04 người con không được chia đất để canh tác. Ông A và các con đã làm đơn khiếu nại nhiều lần về việc này nhưng không được trả lời. Năm 2009, ông A mất. Hiện 04 người con của ông A trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng vẫn không có đất để sản xuất. Những người con này đã đã làm đơn kiện đòi lại đất mà ông A đã góp vào hợp tác xã mãi cũng không được. Cha mẹ tôi đã mất, hiện nay gia đình của chúng tôi gồm 4 người làm nông nghiệp ở nông thôn mà không có ruộng để sản xuất. Vậy theo pháp luật hiện hành thì tôi có thể lấy lại 3 ha ruộng của cha mẹ để lại hay không? Thủ tục đòi lại đất như thế nào?

Hỏi:

Anh chị hãy cho biết:

1.     Vụ việc đòi lại đất của các người con ông A  đúng hay sai? Vì sao?
2.     Vụ việc này sẽ do cơ quan nhà nước nào giải quyết? Thủ tục giải quyết như thế nào?
3.     Tư vấn cho 4 người con của ông A các thủ tục để có đất sản xuất sử dụng vào mục đích nông nghiệp?
4.     Việc làm của chính quyền địa phương trong vụ việc này là đúng hay sai? Vì sao?

 

 GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

1. Nhận xét việc đòi lại đất của các người con ông A

Để khẳng định việc đòi lại đất của các người con ông A là đúng hay sai cần xem xét các vấn đề sau:

Thứ nhất:  Quyền sử dụng đất sau khi góp vào hợp tác xã vẫn thuộc về hợp tác xã hay gia đình ông A?

Tùy vào câu chữ trong văn bản góp ruộng này để xác định có sự dịch chuyển quyền sử dụng đất từ ông A sang hợp tác xã hay không:

–        TH1: Nếu có sự dịch chuyển quyền sử dụng đất từ ông A sang hợp tác xã thì hợp tác xã là người sử dụng đất. Như vậy, khi hợp tác xã giải thể thì phải căn cứ vào điều lệ của hợp tác xã để xử lí quyền lợi của xã viên.

–        TH2: Nếu không có sự dịch chuyển quyền sử dụng đất  từ ông A sang hợp tác xã thì ông A vẫn là người sử dụng đất. Quyền sử dụng đất của ông A không liên quan gì tới việc hợp tác xã giải thể và chính sách giao khoán ruộng đất của chính quyền địa phương. Vì vậy, căn cứ vào luật thừa kế, các con ông A tiếp tục là người có quyền sử dụng  đối với 3 ha đất.

Thứ hai: Nếu 3 ha đất (do ông A góp) thuộc quyền sử dụng của hợp tác xã thì khi hợp tác xã giải thể, quyền sử dụng đất được giải quyết như thế nào?

Quyền lợi của gia đình ông A khi hợp tác xã giải thể sẽ được xử lí theo điều lệ của hợp tác xã. Tuy nhiên, riêng phần đất mà hợp tác xã sử dụng thì hiến pháp năm 1980 đã quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước quản lí. Vì vậy, khi hợp tác xã giải thể, toàn bộ đất đai do hợp tác xã sử dụng phải giao lại cho chính quyền địa phương quản lí. Trường hợp này, việc ông A không được trả lại ruộng đất khi hợp tác xã giải thể là phù hợp với nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước quản lí.

Thứ 3: Việc gia đình ông A không được giao khoán ruộng có đúng không?

Xem xét hai trường hợp sau:

TH1: Hộ gia đình ông A từ chối việc giao khoán

Ông A từ chối việc giao khoán thì việc chính quyền không giao ruộng là đúng. Việc từ chối giao khoán thể hiện bởi:

–        Chính quyền yêu cầu hộ gia đình phải có đơn xin khoán nhưng gia đình ông A không có đơn.

–        Trong thời gian chia ruộng cho các hộ gia đình nhận khoán, hộ gia đình ông A bỏ đi nơi khác sinh sống.

TH2: Hộ gia đình ông A mong muốn được giao khoán nhưng không được giao ruộng

Căn cứ vào khoản 3 Điều 1 Quyết định 13/HĐBT ngày 01/02/1989 quy định về nguyên tắc giải quyết mọi quan hệ ruộng đất như sau: “Đảm bảo cho mọi người sản xuất đất nông nghiệp có đất đai sản xuất làm cho tình hình ruộng đất được ổn định và nông dân yên tâm sản xuất” thì việc chính quyền không giao khoán ruộng đất cho ông A là trái với quy định trên.

Kết luận: 

1. Nếu việc góp ruộng của ông A vào hợp tác xã không làm dịch chuyển quyền sử dụng đất từ ông A sang hợp tác xã thì căn cứ theo pháp luật thừa kế, các con của ông A là những người tiếp tục có quyền sử dụng đất hợp pháp. Do đó, họ có được đòi lại quyền sử dụng đất của mình.

2. Nếu việc góp ruộng của ông A vào hợp tác xã có làm thay đổi quyền sử dụng đất từ ông A sang hợp tác xã thì gia đình ông A không có quyền đòi lại đất mà chỉ có quyền nhận ruộng khoán từ chính quyền theo quy định:

–        Trường hợp gia đình ông A từ chối nhận khoán thì việc chính quyền không giao khoán cho ông A là đúng.

–        Trường hợp gia đình ông A có mong muốn nhận khoán thì việc chính quyền không giao khoán là trái quy định và các con của ông A có quyền yêu cầu chính quyền cấp ruộng cho họ.

2. Thẩm quyền và thủ tục giải quyết

a) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết

Căn cứ vào Điều 37 Luật đất đai năm 2003 quy định về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cụ thể đối với trường hợp ông A là hộ gia đình cá nhân thì áp dụng khoản 2 của luật này “Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân; giao đất đối với cộng đồng dân cư”.

Căn cứ vào Điểm a Khoản 2 Điều 136 Luật đất đai năm 2003 quy định: “Trường hợp  Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương  giải quyết; quyết định của  Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng”.

Như vậy cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc này chính là UBND huyện,quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh của gia đình ông A.

b) Thủ tục giải quyết

Nếu việc góp ruộng của ông A vào hợp tác xã có làm thay đổi quyền sử dụng đất từ ông A sang hợp tác xã thì gia đình ông A không có quyền đòi lại đất mà chỉ có quyền nhận ruộng khoán từ chính quyền. Trường hợp này áp dụng Điều 122 Luật đất đai năm 2003 quy định trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người được giao đất, thuê đất. Cụ thể:

1. Việc nộp hồ sơ xin giao đất, thuê đất được quy định như sau:

a) Tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài xin giao đất, thuê đất nộp hai bộ hồ sơ tại cơ quan quản lý đất đai của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có đất.

Hộ gia đình, cá nhân xin giao đất, thuê đất nộp hai bộ hồ sơ tại cơ quan quản lý đất đai của huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi có đất;

b) Hồ sơ xin giao đất, thuê đất gồm đơn xin giao đất, thuê đất; dự án đầu tư của tổ chức theo quy định của pháp luật về đầu tư; đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thì phải có dự án đầu tư và bản sao giấy phép đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư có chứng nhận của công chứng nhà nước.

2. Việc giao đất, cho thuê đất đối với đất đã được giải phóng mặt bằng được quy định như sau:

a) Trong thời hạn không quá mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính khu đất xin giao, xin thuê; xác định mức thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; thực hiện các thủ tục về giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định và trao quyết định giao đất hoặc cho thuê đất cho người được giao đất, thuê đất;

b) Trong thời hạn không quá mười ngày làm việc, kể từ ngày người được giao đất, thuê đất thực hiện xong nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật, cơ quan quản lý đất đai ký hợp đồng thuê đất đối với trường hợp thuê đất, tổ chức bàn giao đất trên thực địa và trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người được giao đất, thuê đất.

3. Việc giao đất, cho thuê đất đối với đất chưa được giải phóng mặt bằng được quy định như sau:

a) Trong thời hạn không quá ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm hoàn thành việc giới thiệu địa điểm; trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính khu đất xin giao, xin thuê; xác định mức thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; thực hiện các thủ tục về giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định và trao quyết định giao đất hoặc cho thuê đất cho người được giao đất, thuê đất;

b) Căn cứ vào quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng;

c) Trong thời hạn không quá mười ngày làm việc, kể từ ngày thực hiện xong việc giải phóng mặt bằng và người được giao đất, thuê đất thực hiện xong nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật, cơ quan quản lý đất đai ký hợp đồng thuê đất đối với trường hợp thuê đất; tổ chức bàn giao đất trên thực địa và trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người được giao đất, thuê đất.

3. Tư vấn cho 4 người con của ông A các thủ tục để có đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp

          Áp dụng Điều 122 Luật đất đai năm 2003 quy định trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người được giao đất, thuê đất. Cụ thể:

1. Việc nộp hồ sơ xin giao đất, thuê đất được quy định như sau:

a) Tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài xin giao đất, thuê đất nộp hai bộ hồ sơ tại cơ quan quản lý đất đai của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có đất.

Hộ gia đình, cá nhân xin giao đất, thuê đất nộp hai bộ hồ sơ tại cơ quan quản lý đất đai của huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi có đất;

b) Hồ sơ xin giao đất, thuê đất gồm đơn xin giao đất, thuê đất; dự án đầu tư của tổ chức theo quy định của pháp luật về đầu tư; đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thì phải có dự án đầu tư và bản sao giấy phép đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư có chứng nhận của công chứng nhà nước.

2. Việc giao đất, cho thuê đất đối với đất đã được giải phóng mặt bằng được quy định như sau:

a) Trong thời hạn không quá mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính khu đất xin giao, xin thuê; xác định mức thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; thực hiện các thủ tục về giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định và trao quyết định giao đất hoặc cho thuê đất cho người được giao đất, thuê đất;

b) Trong thời hạn không quá mười ngày làm việc, kể từ ngày người được giao đất, thuê đất thực hiện xong nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật, cơ quan quản lý đất đai ký hợp đồng thuê đất đối với trường hợp thuê đất, tổ chức bàn giao đất trên thực địa và trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người được giao đất, thuê đất.

3. Việc giao đất, cho thuê đất đối với đất chưa được giải phóng mặt bằng được quy định như sau:

a) Trong thời hạn không quá ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm hoàn thành việc giới thiệu địa điểm; trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính khu đất xin giao, xin thuê; xác định mức thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; thực hiện các thủ tục về giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định và trao quyết định giao đất hoặc cho thuê đất cho người được giao đất, thuê đất;

b) Căn cứ vào quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng;

c) Trong thời hạn không quá mười ngày làm việc, kể từ ngày thực hiện xong việc giải phóng mặt bằng và người được giao đất, thuê đất thực hiện xong nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật, cơ quan quản lý đất đai ký hợp đồng thuê đất đối với trường hợp thuê đất; tổ chức bàn giao đất trên thực địa và trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người được giao đất, thuê đất.

4. Nhận xét việc làm của chính quyền địa phương

    Xem xét hai trường hợp sau:

TH1: Hộ gia đình ông A từ chối việc giao khoán

Ông A từ chối việc giao khoán thì việc chính quyền không giao ruộng là đúng. Việc từ chối giao khoán thể hiện bởi:

–        Chính quyền yêu cầu hộ gia đình phải có đơn xin khoán nhưng gia đình ông A không có đơn.

–        Trong thời gian chia ruộng cho các hộ gia đình nhận khoán, hộ gia đình ông A bỏ đi nơi khác sinh sống.

TH2: Hộ gia đình ông A mong muốn được giao khoán nhưng không được giao ruộng

Căn cứ vào khoản 3 Điều 1 Quyết định 13/HĐBT ngày 01/02/1989 quy định về nguyên tắc giải quyết mọi quan hệ ruộng đất như sau: “Đảm bảo cho mọi người sản xuất đất nông nghiệp có đất đai sản xuất làm cho tình hình ruộng đất được ổn định và nông dân yên tâm sản xuất” thì việc chính quyền không giao khoán ruộng đất cho ông A là trái với quy định trên.

  1. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình Luật đất đai, trường ĐH Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội-2009.
    2. Luật đất đai năm 2003, Nxb Tư pháp , Hà Nội-2009.
    3. http://www.chinhphu.vn

  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: