Bài tập nhóm Đường lối – Làm rõ sự khác nhau về Công nghiệp hóa trước và trong thời kì đổi mới


NỘI DUNG CHÍNH

I. Khái quát về CNH trước và trong thời kì đổi mới.

1. CNH trước thời kì đổi mới.

a. Mục tiêu và phương hướng.

Mục tiêu cơ bản của CNH: xây dựng một nền kinh tế XHCN cân đối và hiện đại; bước đầu xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó là mục tiêu cơ bản, lâu dài, phải thực hiện qua nhiều giai đoạn.

Phương hướng của CNH:

+ Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý.

+ Kết hợp chặt chẽ phát triển công nghiệp với phát triển nông nghiệp.

+ Ra sức phát triển công nghiệp nhẹ song song với việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng.

+ Ra sức phát triển công nghiệp trung ương đồng thời đẩy mạnh phát triển công nghiệp địa phương.

b. Đặc trưng chủ yếu.

– CNH theo mô hình nền kinh tế khép kín, hướng nội và thiên về phát triển công nghiệp nặng, gắn với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp.

– Chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động, tài nguyên đất đai và nguồn viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa.

– Nóng vội, giản đơn, chủ quan duy ý chí, ham làm nhanh, làm lớn không quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội.

2. CNH trong thời kì đổi mới.

a. Quá trình đổi mới tư duy về CNH.

– Đại hội VI của Đảng phê phán sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hoá thời kỳ 1960-1986:

+ Chúng ta đã phạm sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, v.v…

+ Trong việc bố trí cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu sản xuất và đầu tư, thường chỉ xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh, không kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu công nghiệp với nông nghiệp thành một cơ cấu hợp lý.

+ Không thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết của Đại hội lần thứ V.

– Quá trình đổi mới tư duy về CNH từ Đại hội VI đến Đại hội X.

+ Hội nghị Trung ương 7 khóa VII (1/1994) có bước đột phá mới trong nhận thức về công nghiệp hóa.

+ Đại hội VIII của Đảng (6/1996) nhìn nhận lại đất nước sau 10 năm đổi mới. Đại hội nêu ra 6 quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và định hướng những nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong những năm còn lại của thập kỷ 90.

+ Đến Đại hội IX (4/2001) và Đại hội X (4/2006), Đảng tiếp tục bổ sung và nhấn mạnh một số quan điểm mới về công nghiệp hóa.

b. Mục tiêu, quan điểm CNH, HĐH.

Mục tiêu: Đại hội X đề ra mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức là: sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Quan điểm.

+ CNH gắn với HĐH; CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức.

+ CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế;

+ Lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững;

+ Coi phát triển khoa học và công nghệ là nền tảng, là động lực của CNH, HĐH;

+ Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học.

c. Nội dung và định hướng CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức.

– Nội dung.

+ Phát triển các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức;

+ Coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng…

+ Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý;

+ Giảm chi phí trung gian, nâng cao năng suất lao động…

– Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực kinh tế trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức.

– Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn;

– Phát triển nhanh hơn công nghiệp, xây dựng và dịch vụ;

– Phát triển kinh tế vùng;

– Phát triển kinh tế biển;

– Chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ;

– Bảo vệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên.

II. Sự khác nhau giữa CNH trước và trong thời kì đổi mới.

1. Về quan điểm.

Trước đổi mới, chúng ta hiểu CNH một cách chưa đầy đủ, cho rằng CNH đơn giản là quá trình chuyển đổi từ lao động thủ công sang lao động máy móc. Công nghiệp hoá thường được hiểu là việc của Nhà nước, thông qua khu vực quốc doanh và tập thể là chủ yếu.

Sau giai đoạn đổi mới đất nước, Đảng ta chính thức xác định CNH, HĐH ở nước ta là: quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động xã hội cao. CNH là sự nghiệp của toàn dân với sự tham gia tích cực của tất cả các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Quan niệm về doanh nghiệp nhà nước vì thế cũng linh hoạt hơn, bao gồm những doanh nghiệp mà Nhà nước nắm một số cổ phần, khống chế tương đối hay tuyệt đối. Đồng thời thực hiện đa dạng hoá và đan xen các loại hình sở hữu.

2. Cơ chế thực hiện CNH.

CNH trước đây được tiến hành theo cơ chế cũ, tập trung quan liêu, bao cấp; thực hiện kế hoạch hoá tập trung với các chỉ tiêu pháp lệnh.

Trong thời kì đổi mới, CNH, hiện đại hóa (HĐH) được xác định là sự nghiệp của toàn dân, tất cả các thành phần kinh tế đều tham gia, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Do vậy, CNH, HĐH được tiến hành theo cơ chế mới, là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

Như vậy:

1- Từ chủ trương xác lập nóng vội cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH để đưa nước ta đến năm 2020 về cơ bản trở thành một nước công nghiệp, có cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp và dịch vụ hiện đại;

2 – Từ nền kinh tế “khép kín”, “hướng nội”, quan hệ chỉ khép kín trong  hệ thống XHCN, chuyển sang thực hiện một nền kinh tế mở đa dạng, đa phương phù hợp thông lệ quốc tế, hướng mạnh về xuất khẩu kết hợp với thay thế nhập khẩu;

3- Chuyển từ CNH thực hiện trong khuôn khổ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang tuân theo thị trường, gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới thành một chỉnh thể hữu cơ, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN.

Đây là quan điểm hoàn toàn đúng đắn của Đảng ta vì sự tồn tại của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH là một tất yếu khách quan, dẫn đến quá trình CNH, HĐH cũng phải do các thành phần kinh tế cùng tham gia thực hiện.

3. Về nội dung CNH, HĐH.

Trong những năm trước thời kì đổi mới, từ 1960-1981, chúng ta chủ trương CNH phải đi từ công nghiệp nặng và vấn đề ưu tiên phát triển công nghiệp nặng được nâng thành bản chất cốt lõi của CNH, HĐH đất nước. Do vậy các ngành kinh tế mũi nhọn lúc này là cơ khí, luyện kim và năng lượng (chủ yếu là thuỷ điện) rất được chú trọng đầu tư trong khi mà công nghiệp nhẹ và đặc biệt là nông nghiệp chưa được chú ý đến. Đến năm 1982, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 5 của Đảng đã xác định phải ưu tiên phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đồng thời đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng; tuy nhiên do không đề ra được các chính sách, giải pháp cụ thể, đồng bộ để phát triển nông nghiệp, vì vậy CNH, HĐH vẫn chủ yếu tập trung vào ngành công nghiệp nặng, chưa chú trọng đến việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế cho phù hợp.

Trong giai đoạn hiện nay, nội dung cơ bản của CNH, HĐH được xác định là: đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm thuỷ sản; phát triển công nghiệp theo hướng ưu tiên phát triển các ngành chế biến lương thực- thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin; xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng như dầu khí, luyện kim, cơ khí chế tạo, hoá chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng… với bước đi hợp lý, phù hợp với điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường, đồng thời phát huy được hiệu quả; mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ; đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại.

Từ những nội dung đó, chúng ta dễ dàng thấy được CNH, HĐH trong giai đoạn hiện nay đã có sự khác biệt nhiều so với trước thời kỳ đổi mới. Từ tập trung ưu tiên cho phát triển công nghiệp nặng nay đã chú ý đến phát triển công nghiệp nhẹ, xem CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của CNH, HĐH đất nước; điều này là hoàn toàn phù hợp bởi vì nước ta vẫn là một nước nông nghiệp với 75% dân số sống ở nông thôn, phát triển kinh tế nông thôn sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế và ổn định chính trị đất nước. Từ chỗ chỉ tập trung phát triển công nghiệp nặng với một số ít ngành công nghiệp mũi nhọn nay đã chú ý đến cơ cấu kinh tế ngành, thành phần kinh tế và phát triển hợp lý các vùng, lãnh thổ; chú ý phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, vật liệu, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và tự động hoá. Từ mô hình kinh tế nhập khẩu nay đã chuyển sang mô hình hướng mạnh xuất khẩu là chính…

4. Về bước đi, tốc độ của CNH.

Thời kỳ trước đổi mới, Đảng đã chủ trương đẩy mạnh CNH, xây dựng một cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp hiện đại, trù liệu thời gian CNH XHCN mất khoảng 20 năm. (ĐH IV).

Thời kỳ đổi mới, Đảng xác định: quá trình CNH phải được tiến hành từng bước phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ chưa thể đẩy mạnh CNH, mà là tạo tiền đề cần thiết để đẩy mạnh CNH ở chặng đường tiếp theo (chủ trương đẩy mạnh CNH từ Đại hội VIII – 1996); cơ cấu kinh tế hợp lý với từng thời đoạn; con đường CNH ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước…

Tư duy CNH của Đảng thời đổi mới xác định: con đường CNH ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước. Đây là yêu cầu cấp thiết của nước ta nhằm thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Một nước đi sau có điều kiện tận dụng những kinh nghiệm kỹ thuật, công nghệ và thành quả của các nước đi trước, tận dụng xu thế của thời đại và qua hội nhập quốc tế để rút ngắn thời gian.

Như vậy, đường lối CNH chuyển từ CNH XHCN với cách làm nóng vội, bỏ qua các bước đi trung gian cần thiết, đã chuyển sang thực hiện CNH vừa có bước đi tuần tự, giai đoạn trước tạo tiền đề cho sự phát triển của giai đoạn sau theo trật tự tuyến tính, vừa cho phép phát triển “rút ngắn” trên cơ sở đi tắt, đón đầu các thành tựu phát triển nhảy vọt về khoa học và công nghệ của thế giới.

5. CNH, HĐH trong thời kì đổi mới gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường, phát triển nhanh, bền vững.

Từ quan niệm CNH cổ điển chuyển sang quan niệm CNH, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức, thực hiện các mục tiêu phát triển trước mắt phải đi đôi với yêu cầu không làm tổn hại đến khả năng phát triển trong tương lai (phát triển nhanh, bền vững, bảo vệ tài nguyên môi trường).

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta lãnh đạo sự nghiệp đẩy mạnh CNH, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, chính là làm cho mục tiêu này thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, bằng những hình thức, bước đi và biện pháp phù hợp, tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được, sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm nhằm đạt những thành tựu to lớn và vững chắc hơn trong việc thực hiện những mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ mà Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) được Đại hội lần thứ XI của Đảng thông qua.

KẾT LUẬN

CNH, HĐH đã được Đảng ta xác định là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ. Thời kỳ quá độ là lâu dài, với nhiều chạng đường đầy khó khăn, phức tạp, do đó trong quá trình thực hiện CNH, HĐH, bên cạnh những kết quả tích cực đạt được chắc chắn cũng sẽ có lúc gặp trở ngại hoặc sai lầm, dẫn đến hiệu quả không cao; điều quan trọng là phải biết khắc phục những yếu kém, khuyết điểm đó, tranh thủ tốt thời cơ để vươn lên. Từ những thành tựu đạt được qua 20 năm đổi mới, từ những kết quả đạt được trong những năm tiến hành CNH, HĐH theo tinh thần nghị quyết Đại hội VIII của Đảng; chúng ta có quyền tự hào và tin tưởng vào đường lối lãnh đạo đất nước của Đảng, tin tưởng sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nhất định sẽ thắng lợi, CNXH nhất định sẽ thành công.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2009.
  2. Hội đồng biên soạn giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Giáo trình lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2004.
  3. Hỏi đáp môn đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội- 2010.
  4. “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH”, Văn kiện Đại hội Đảng thời kì đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. CTQG, Hà Nội, 2005.
  5. Website: www.vi.wikipedia.org
  6. Phân tích những quan điểm đổi mới của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa thể hiện trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 8 của Đảng – blog https://duongcachmenh.wordpress.com
  7. Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa thời kì đổi mới – website https://tailieu.vn
  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: