Bài tập nhóm Tố tụng dân sự – đương sự trong vụ án dân sự


 

Vụ án dân sự là những việc tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên Tòa án giữa các bên được Tòa án thụ lý giải quyết. Tham gia vụ án có nhiều chủ thế khác nhau song trong đó đóng vai trò quan trọng mang tính quyết định đến việc phát sinh, thay đổi, chấm dứt hay đình chỉ tố tụng đó chính là đương sự. Đây là thành phần không thể thiếu trong một vụ án dân sự.

Nội dung

1.     Khái quát chung về đương sự trong vụ án dân sự

1.1.         Khái niệm đương sự trong vụ án dân sự

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự thì đương sự là chủ thể không thể thiếu. Với vai trò là người “châm ngòi” cho qui trình tố tụng, theo quy định tại khoản 1, Điều 56 BLTTDS 2004: “Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan tổ chức bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Theo qui định này thì các đương sự khá đa dạng và phong phú song cách của BLTTDS quy định lại mang tính liệt kê nên chưa đưa ra được cách hiểu rõ ràng nhất về đương sự, từ đó xuất phát nhiều cách hiểu khác nhau. Trong tiếng việt “đương sự” được hiểu “là người, là đối tượng trong một sự việc nào đó được đưa ra giải quyết”. Theo Từ điển Hán Việt thì đương sự là : “Người có liên quan trực tiếp trong vụ việc” còn theo từ điển thuật ngữ Luật học thì: “Đương sự là người có quyền và nghĩa vụ được giải quyết trong một khiếu nại hay vụ án”. Như vậy, theo nghĩa chung nhất thì đương sự chỉ là người, là đối tượng trong một vụ việc nào đó được đưa ra giải quyết trong cuộc sống hàng ngày. Từ đó có thể định nghĩa về đương sự trong vụ án dân sự như sau: “Đương sự trong vụ án dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách”.

Vụ án dân sự là những việc phát sinh tại Tòa án do các đương sự khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước hay quyền, lợi ích hợp pháp của người khác đang bị tranh chấp. Trong các vụ án dân sự có một số người tham gia tố tụng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án dân sự tham gia với mục đích là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Trong một số trường hợp tuy họ không có quyền lợi ích liên quan đến vụ án dân sự nhưng lại tham gia tố tụng để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước trong lĩnh vực được tham gia phụ trách. Họ có thể là cá nhân, cơ quan hay tổ chức (có tư cách pháp nhân và không có tư cách pháp nhân).

Đương sự có các đặc điểm cơ bản:

● Đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung có quyền và lợi ích tranh chấp, bị xâm phạm hoặc cần được xác định trong vụ án dân sự.

● Đương sự là chủ thể được Tòa án chấp nhận tham gia vào quá trình giải quyết vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

● Đương sự là chủ thể bình đẳng với nhau trong tố tụng dân sự có thể tham gia độc lập hoặc thông quan người đại diện trong tố tụng dân sự.

● Đương sự là chủ thể có quyền tự định đoạt việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ là cơ sở làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quá trình giải quyết vụ án dân sự.

1.2.         Năng lực tố tụng dân sự của đương sự trong vụ án dân sự

 NLPLTTDS và NLHVTTDS là hai yếu tố cấu thành năng lực chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự là một loại chủ thể của quan hệ pháp luật TTDS nên để tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS thì đương sự phải có NLPL TTDS và NLHVTTDS.

* NLPLTTDS của đương sự: Là khả năng pháp luật quy định cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác có các quyền và nghĩa vụ TTDS.

NLPLTTDS  là NLPLDS có mối quan hệ mật thiết với nhau. NLPLDS là cơ sở của NLPLTTDS. NLPLTTDS của cá nhân luôn gắn liền với sự tồn tại của cá nhân từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đó chết. NLPLTTDS  của tổ chức xuất hiện khi tổ chức đó được thành lập và mất đi khi tổ chức đó không còn tồn tại. “Mọi cá nhân, tổ chức có NLPLTTDS như nhau trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” (khoản 1, Điều 57 BLTTDS 2004) không thể bị hạn chế hoặc bị tước đoạt các quyền và nghĩa vụTTDS.  Như vậy, đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật TTDS là các chủ thể có quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.

* NLHVTTDS của đương sự: Là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ TTDS hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia TTDS (khoản 2, Điều 57 BLTTDS 2004) khác với NLPL tố tụng của đương sự, NLHVTTDS là yếu tố luôn có sự biến động và được xác định ở các mức độ khác nhau. Nếu NLPLTTDS là như nhau thì NLHVTTDS của đương sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ TTDS hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia TTDS (khoản 2, Điều 57 BLTTDS 2004).

NLHVTTDS có mối quan hệ mật thiết với NLHVDS, cũng như NLPL TTDS, một chủ thể được xác định là có NLHVTTDS nếu chủ thể đó có NLHVDS.

Với quy định tại khoản Điều 56 BLTTDS đã bao quát được tất cả các chủ thể  tham gia quan hệ dân sự đã được quy định trong BLDS (cá nhân, cơ quan, tổ chức) trong đó:

 – Đương sự là cá nhân bao gồm công dân Việt Nam, người có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịch. Theo quy định tại khoản 3, Điều 57 BLTTDS thì đương sự từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ NLHVTTDS trừ người mất NLHVdân sự, người bị hạn chế NLHVdân sự hoặc pháp luật có quy định khác. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2005/NQ – HĐTP ngày 31/3/2005 thì người chưa đủ 18 tuổi vẫn có thể có đầy đủ NLHVTTDS, đương sự là người từ đủ 15 tuối đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó. Quy định này xuất phát từ quy định trong Bộ luật lao động (BLLĐ) và Bộ luật dân sự (BLDS), vì theo Điều 6 BLLĐ người đủ 15 tuổi có quyền ký kết hợp đồng lao động. Còn BLDS quy định trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng đủ để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không đòi hỏi phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật(khoản 2 Điều 20 BLDS). Ngoài ra BLTTDS quy định nếu “pháp luật có quy định khác” thì căn cứ vào các quy định đó để xác định năng lực hành vi tố tụng của đương sự. Ví dụ: (người vợ chưa đủ 18 tuổi họ có quyền tham gia TTDS) hoặc người đủ 18 tuổi nhưng lại không có đầy đủ NLHVTTDS (trong trường hợp Tòa án cấm cha, mẹ làm đại diện cho con thì họ không được tham gia TTDS).

Đối với đương sự là người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do đại diện hợp pháp của họ thực hiện.

– Đương sự là cơ quan bao gồm các cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân. Cơ quan tham gia tố tụng dân sự thông qua người đại diện theo pháp luật ( thủ trưởng cơ quan) hoặc đại diện theo ủy quyền.

Thông thường một cơ quan gồm nhiều bộ phận cấu thành về nguyên tắc nếu những bộ phận cấu thành này không có quyền độc lập về tài sản thì các bộ phận này không thể tham gia tố tụng với tư cách đương sự.

– Đương sự là tổ chức bao gồm: tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp. Tổ chức tham gia tố tụng dân sự thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền.Tổ chức là pháp nhân hoặc không phải là pháp nhân. Có thể tham gia Tố tụng dân sự với tư cách là đương sự.

Trường hợp tổ chức có nhiều bộ phận thì chỉ những bộ phận hoàn toàn độc lập về tài chính mới có tư cách đương sự. Ví dụ: Tổng công ty có văn phòng, có phòng kế toán tài vụ… và các công ty thành viên thì văn phòng, phòng tài vụ… không thể tham gia tố tụng với tư cách đương sự. Nhưng các công ty thành viên, nếu đủ điều kiện là pháp nhân được tham gia tố tụng dân sự với tư cách đương sự.

Đối với việc xác định tư cách tham gia tố tụng dân sự của Hộ gia đình, dòng họ. Hộ gia đình, dòng họ hình thành trên cơ sở huyết thống, tập quán chứ không do cơ quan có thẩm quyền cho phép hay công nhận, nên hộ gia đình dòng họ tham gia tố tụng dân sự với tư cách đương sự là cá nhân.

Đối với cơ quan, tổ chức nước ngoài thì NLPLTTDS được xác định theo pháp luật của nước cơ quan, tổ chức đó được thành lập, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác.

Đối với tổ chức quốc tế thì NLPLTTDS được xác định trên cơ sở điều ước Quốc tế là căn cứ để thành lập tổ chức đó, quy chế hoạt động của tổ chức Quốc tế hoặc điều ước Quốc tế đã được ký kết với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam (Điều 408 BLTTDS).

2.     Đương sự trong vụ án dân sự

Khoản 1, Điều 56 BLTTDS 2004đương sự trong vụ án dân sự gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

2.1. Nguyên đơn

Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khời kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức do bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm hại. Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách cũng là nguyên đơn (khoản 2 Điều 56 BLTTDS).

Điều đó cho thấy nguyên đơn có vai trò quan trọng trong vụ án dân sự so với các đương sự khác. Vì để phát sinh vụ án dân sự tại Tòa án, đồng thời là cơ sở để bắt đầu giải quyết vụ án dân sự phải có nguyên đơn khởi kiện hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn.

Để trở thành nguyên đơn thì cá nhân, cơ quan, tổ chức phải đáp ứng những điều kiện nhất định:

– Thứ nhất: Khi các chủ thể cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại. Điều này cho thấy việc nguyên đơn tham gia tố tụng mang tính chủ động, khi nhận thấy quyền lợi của bản thân bị xâm hại chủ thể tự mình yêu cầu cơ quan chức năng bảo vệ quyền lợi cho mình. Nó trái ngược lại với tính bị động của bị đơn khi tham gia tố tụng. Việc yêu cầu bảo vệ quyền lợi bị xâm hại xuất phát từ ý chí chủ quan của nguyên đơn. Vì việc xác định quyền lợi của chủ thể có bị xâm hại hay không thì phải được khẳng định trong các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực. Khi bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật khẳng định vấn đề đó, thì quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn mới chỉ dừng lại là giả thiết bị xâm phạm.

– Thứ hai: Để tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS thì nguyên đơn phải có NLPLTTDS và NLHVTTDS. Vì ngoài việc có khả năng pháp luật quy định nguyên đơn còn phải tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ TTDS hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng lúc đó họ trở thanh nguyên đơn.

– Thứ ba: Các chủ thể trở thành nguyên đơn khi yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích công cộng, lợi ích thuộc lĩnh vực mình phụ trách: Đối với chủ thể là cá nhân có NLHVTTDS  đầy đủ hoặc cơ quan, tổ chức thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự được Tòa án thụ lý thì các cá nhân, cơ quan, tổ chức đó trở thành nguyên đơn. Trường hợp cá nhân không có NLHVTTDS đầy đủ mà được người đại diện hợp pháp của người này thì người được bảo vệ quyền lợi cũng được xác định là nguyên đơn. Việc quy định nhiều chủ thể có thể trở thành nguyên đơn cho thấy sự quan tâm của pháp luật tới việc đảm bảo lợi ích của mọi chủ thể trong xã hội.

– Thứ tư: Để khởi kiện và xác định tư cách là nguyên đơn thì chủ thể phải có đơn khởi kiện, gửi đơn kiện tới Tòa án và Tòa án thụ lý đơn khởi kiện. Đơn khởi kiện phải đầy đủ nội dung được quy định tại khoản 2 Điều 164 BLTTDS.

Trong trường hợp cả hai bên chủ thể của một quan hệ pháp luật nội dung trong tranh chấp mà cùng khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ nội dung tranh chấp đó thì Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của bên nào trước thì bên đó được xác định là nguyên đơn.

Ngoài nguyên đơn là người có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của cá nhân, lợi ích công cộng…thì bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng trở thành nguyên đơn trong trường hợp:

+ Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn

giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn.

+ Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ với yêu cầu độc lập trở thành nguyên đơn.

2.2. Bị đơn

Nếu nguyên đơn là một trong những đương sự đóng vai trò quan trọng trong vụ án dân sự, tạo điều kiện tiên quyết để có vụ án dân sự phát sinh tại Tòa thì bị đơn đóng vai trò không thể thiếu trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Bị đơn luôn đi kèm với nguyên đơn, tư cách bị đơn được xác định cùng với tư cách nguyên đơn.

Khoản 3, Điều 56 BLTTDS quy định: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan tổ chức khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xác định là bị đơn trong vụ án dân sự khi đáp ứng được điều kiện sau:

– Thứ nhất: Là người bị nguyên đơn theo của BLTTDS khởi kiện. Xét về tính chất việc tham gia tố tụng của bị đơn mang tính thụ động, do bị bắt buộc tham gia tố tụng. Họ tham gia tố tụng không phải do họ gửi đơn khởi kiện tới Tòa án mà buộc phải tham gia tố tụng  để bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn. Điều này trái ngược với tính chủ động của nguyên đơn gửi đơn tới Tòa khi nhận thấy quyền lợi bị xâm hại cùng lúc với việc nguyên đơn khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án thì bị đơn cũng được xác lập, đó là người mà nguyên đơn cho rằng đã xâm phạm đến quyền lợi của mình và khi xét xử thì bị đơn được triệu tập nhằm giải quyết quyền lợi của nguyên đơn. Bị đơn tham gia tố tụng để trả lời về việc kiện do bị nguyên đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật.

– Thứ hai: Có NLPLTTDS và NLHVTTDS. Cũng giống như nguyên đơn, bị đơn cũng phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu về năng lực chủ thể tham gia tố tụng. Vì quá trình giải quyết vụ án dân sự là một quá trình phức tạp bao gồm nhiều thủ tục, nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau, trong đó bị đơn có thể tham gia vào tất cả các giai đoạn khác nhau của quá trình đó để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tố tụng.

– Thứ ba: Bị đơn là người được giả thiết là có tranh chấp hay vi phạm đến quyền lợi của nguyên đơn. Bị đơn được xác định cùng với nguyên đơn khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa. Việc xác định quyền lợi của bị đơn có xâm phạm đến quyền lợi của nguyên đơn hay không phải dựa vào quyết định của Tòa án.

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa nguyên đơn có thể trở thành bị đơn và bị đơn trở thành nguyên đơn. Khoản 1, 2 Điều 219, nguyên đơn trở thành bị đơn trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ yêu cầu phân tố. Người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập trở thành bị đơn khi nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình.

2.3.  Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

Ngoài nguyên đơn, bị đơn trong vụ án dân sự còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo quy định tại khoản 4, Điều 56 BLTTDS: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Toà án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”. Như vậy, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hiểu một cách chung nhất là người tham gia tố tụng vào vụ án đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác với nguyên đơn và bị đơn, họ không phải là người khởi kiện cũng không phải là người bị kiện. Việc tham gia tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự có thể do họ chủ động hoặc theo yêu cầu của đương sự khác hoặc theo yêu cầu của Tòa án. Do đó để có thể xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án dân sự mà Tòa án đang giải quyết, đồng thời phải được Tòa án đưa họ vào tham gia tố tụng cho thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của chính họ.

Một trong những căn cứ chủ yếu để có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng là quyền đòi bồi hoàn như: quyền của chủ phương tiện đối với người lái xe của họ trong trường hợp chủ phương tiện phải bồi thường cho người bị hại do người lái xe gây ra; quyền của Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra đối với người tiến hành tố tụng trong trường hợp các cơ quan này đã bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người tiến hành tố tụng gây ra; quyền và nghĩa vụ của người thứ ba liên quan khi giải quyết chia tài sản chung với vợ chồng….

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có hai loại: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập hay còn gọi là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia vào vụ án dân sự đã xảy ra giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, việc tham gia tố tụng của họ độc lập với nguyên đơn, bị đơn. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cho rằng đối tượng, phần đối tượng tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là thuộc về họ chứ không phải thuộc về nguyên đơn hay bị đơn. Do vậy, yêu cầu của họ có thể chống cả nguyên đơn và bị đơn. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp yêu cầu của họ đều độc lập với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn và không phụ thuộc vào yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn. Vì có yêu cầu độc lập với cả nguyên đơn và bị đơn, do vậy thông thường người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có đủ điều kiện pháp lý để kiện vụ án dân sự để Tòa án giải quyết yêu cầu của mình, nhưng do vụ án dân sự đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn, nên họ phải tham gia tố tụng để để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nếu không tham gia ngay vào vụ án dân sự đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn mà khởi kiện thành vụ án dân sự khác để bảo vệ quyền lợi cho mình thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ sau đó sẽ gặp khó khăn phức tạp hơn. Ví dụ: Quyền của người thứ ba khi giải quyết chia tài sản chung với vợ chồng, họ cho rằng tài sản đang tranh chấp là của họ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia vào vụ án đã xảy ra giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ luôn phụ thuộc vào việc tham gia tố tụng của nguyên đơn hoặc bị đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn và bị đơn do có quyền, lợi ích luôn phụ thuộc và gắn liền với quyền và lợi ích của nguyên đơn hoặc bị đơn nên họ không thể đưa ra yêu cầu độc lập với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn mà yêu cầu của họ bao giờ cũng đi kèm và phụ thuộc vào yêu cầu của nguyên đơn hoặc bị đơn. Vì vậy, họ không thể khởi kiện để Tòa án giải quyết mà quyền lợi của họ sẽ được giải quyết ngay trong vụ án đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn.

3.     Một số tồn tại thiếu sót của pháp luật trong việc quy định về đương sự và hướng hoàn thiện.

3.1. Tồn tại thiếu sót của pháp luật trong việc quy định về đương sự

– Khoản 1, Điều 56 BLTTDS đã có quy định về đương sự nhưng mới chỉ dừng lại ở quy định về thành phần đương sự mà không có quy định khái niệm đương sự trong vụ án dân sự cho nên trong thực tiễn không ít trường hợp Tòa án xác định sai đương sự, triệu tập thiếu hoặc triệu tập cả những người không phải là đương sự tham gia giải quyết vụ án dân sự dẫn tới quá trình giải quyết vụ án không đúng đắn, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không được tôn trọng và bảo vệ.

– Trong thực tiễn nhiều vụ án dân sự có nhiều nguyên đơn và bị đơn, quyền và lợi ích giữa các nguyên đơn và giữa các bị đơn có thể mâu thuẫn (độc lập) với nhau. Vì vậy việc xác định các trường hợp này sẽ giúp cho việc giải quyết vụ án hiệu quả hơn.

– Quy định Điều 57 BLTTDS về năng lực pháp luật TTDS và năng lực hành vi TTDS dường như đồng nhất phạm trù  năng lực hành vi dân sự với phạm trù năng lực hành vi TTDS  lấy điều kiện tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự là điều kiện tham gia vào quan hệ PLTTDS và QHPL dân sự làm điều kiện tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS là chưa  hợp lý. Vì quan hệ pháp luật TTDS và quan hệ pháp luật là các quan hệ pháp luật khác nhau, có nội dung và yêu cầu khác nhau.

Theo quy định tại điều 76 BLTTDS 2004: “Trong khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu có đương sự là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện … thì Toà án phải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng tại Toà án”. Từ quy định này, cho thấy trong thực thế phát sinh những trường hợp đương sự là người không có năng lực hành vi dân sự, người bị mất năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện hợp pháp thì họ sẽ không thể bảo vệ quyền lợi của mình.

3.2. Phương hướng hoàn thiện.

–  BLTTDS cần bổ sung thêm khái niệm: “Đương sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách”.

–  Bổ sung quy định đối với vụ án dân sự mà có nhiều nguyên đơn, bị đơn, nếu quyền và lợi ích giữa các nguyên đơn và bị đơn không mâu thuẫn thì họ là đồng nguyên đơn và bị đơn. Nếu quyền và lợi ích mâu thuẫn với nhau thì họ là những nguyên đơn và bị đơn độc lập.

–  BLTTDS cần quy định rõ trường hợp đương sự là người dưới 18 tuổi nhưng không có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng, đương sự là người dưới 18 tuổi nhưng vẫn có năng lực hành vi tố tụng đầy đủ. Và trường hợp người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì năng lực hành vi TTDS của họ chỉ bị hạn chế trong lĩnh vực bị cấm.

–  Bổ sung thêm 2 trường hợp người không có năng lực hành vi và người bị mất năng lực hành vi vào Điều 76 để đảm bảo quyền lợi của họ khi bị xâm phạm.

–  Ngoài ra, để việc xác định tư cách của các loại đương sự một cách đúng đắn thì cần thiết phải nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ thẩm phán cả về số lượng và chất lượng song song với công tác tuyên truyền pháp luật để khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có sự hiểu biết để bảo vệ quyền, lợi ích của mình và nhà nước.

       Vừa qua, Quốc hội đã thông qua Luật số 65/2011/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Tố tụng dân sự. Luật này được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 09 thông qua ngày 29/03/2011 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012. Bộ luật tố tụng dân sự mới đã có một số điểm thay đổi chế định đương sự trong TTDS tiêu biểu như bổ sung thêm nguyên tắc bảo đảm quyền tranh luận của các bên đương: các bên đương sự có quyền được trực tiếp đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến vụ án khi được phép của Tòa án hoặc đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi với người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng (quy định trước đây chỉ cho phép đương sự đề xuất với Toà án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với nhân chứng), Nguyên tắc bảo đảm quyền tranh luận không chỉ nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mà còn nhằm quán triệt các thẩm phán khi tiến hành tố tụng phải tạo điều kiện để đương sự thực hiện quyền tranh luận của đương sự để ra bản án, quyết định đúng pháp luật.

       Việc hoàn thiện các quy định pháp luật TTDS nhằm bảo đảm cho đương sự thực hiện được các quyền và nghĩa vụ TTDS là giải pháp vô cùng cần thiết. Các giải pháp này phải được thực hiện một cách đồng bộ mới đem lại hiệu quả cao trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, đảm bảo việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự, khi đó đương sự mới có thể thực hiện được đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Kết luận

Trước thực trạng pháp luật và thực tiến thực hiện để đáp ứng những đòi hỏi của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội hiện nay, chúng Tòa án cần phải nghiêm túc nghiên cứu các quy định của pháp luật TTDS hiện hành và thực tiễn thực hiện để từ đó hoàn thiện các quy định của pháp luật TTDS, trong đó có các quy định về đương sự trong vụ việc dân sự.

 

Danh mục tài liệu tham khảo

1/ Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb. CAND,2009.

2/ Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004.

3/ Nghị quyết 01/2005/HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.

4/dTạp chí nghề luật số 2 năm 2006.

5/ Www.ThoLaw.Wordpress.Com

6/sHttp://www.365ngay.com.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=1657&Itemid=14.

 

 

 

 

  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: