Tổng hợp kiến thức Xây dựng VBPL – Chương IV


 CHƯƠNG IV

VĂN BẢN PHÁP LUẬT CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

I. Khái niệm và đặc điểm

Văn bản quản lý hành chính Nhà nước (QLHCNN) là những quyết định quản lý thành văn, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp và quản lý hành chính có thẩm quyền ban hành theo đúng nguyên tắc, thể thức, thủ tục và quy chế do luật định, mang tính quyền lực Nhà nước đơn phương, làm phát sinh các hệ quả pháp lý cụ thể.

Cần phân biệt văn bản QLHCNN với các loại văn bản của cơ quan lập pháp và của các tổ chức Đảng, đoàn thể chính trị, các tổ chức xã hội khác trong hệ thống chính trị.

2. Đặc điểm:

a. Các văn bản QLHCNN (gọi tắt là văn bản quản lý VBQL) hình thành trong hoạt động quản lý, lãnh đạo, là phương tiện để ghi lại và truyền đạt các quyết định quản lý hhoặc các thông tin cần thiết trong quá trình quản lý của các cơ quan Nhà nước, phản ánh kết quả hoạt động của các cơ quan đó

b. VBQL thể hiện ý chí, mệnh lệnh của cơ quan cấp trên đối với cấp dưới. Đó là hình thức cụ thể hóa pháp luật, là phương tiện để điều chỉnh các mối quan hệ thuộc phạm vi quản lý của mỗi cơ quan, là sản phẩm đặc thù của hoạt động quản lý.

c. Các VBQL thường mang những đặc điểm riêng biệt của từng lĩnh vực cụ thể, của từng loại nhiệm vụ mà nó đảm nhiệm. Từ đó có thể phân loại nhiệm vụ các loại hình văn bản: Loại có tính pháp quy, loại có đặc điểm hành chính thông thường, loại văn bản thống kê v.v…

d. VBQL thường chứa đựng các yếu tố pháp lý, quản lý lãnh đạo, yếu tố kinh tế – xã hội, yếu tố văn hóa – lịch sử.

II. Chức năng của văn bản quản lý

1. Chức năng thông tin

– Thông tin quá khứ:

Phản ảnh những việc đã qua cần tiếp tục theo dõi để nắm vững các giai đoạn phát triển tiếp theo của công việc trong quá trình quản lý ; giúp nhà quản lý đánh giá các hoạt động quản lý một cách tòan diện.

– Thông tin hiện hành: Phản ánh tình hình công việc đang diễn ra, các quan hệ thực tiễn đang chi phối các hoạt động, cách thức làm việc của cán  bộ, viên chức trong giai đoạn hiện tại.

– Thông tin dự đoán: Là những thông tin mang tính kế hoạch tương lai, các dự báo chiến lược, những công việc sẽ phải tiến hành.

2 Chức năng pháp lý:

Các VBQL thường chứa đựng các quy phạm pháp luật, là sự vận dụng các quy phạm pháp luật vào đời sống thực tế, vào hoạt động quản lý; là cơ sở pháp lý cho hoạt động của cơ quan, cho việc ban hành các VBQL thuộc thẩm quyền.

3. Chức năng quản lý

Toàn bộ chu trình quản lý, từ việc ra quyết định, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh các quyết định cho phù hợp với mục tiêu của các hoạt động, người quản lý đều cần đến văn bản để điều hành công việc. VBQL là công cụ quản lý, xây dựng văn bản là để thực hiện nhiệm vụ quản lý

Trong 3 chức năng trên, chức năng thông tin là chức năng bao trùm nhất. Lao động của người quản lý là thu nhập và xử lý thông tin. Thông tin là đối tượng của người quản lý, người lãnh đạo.

Để soạn thảo một VBQL (một quyết định, một công văn, một báo cáo v.v…) người quản lý phải nắm được tất cả các thông tin đến cơ quan, những thông tin trong nội bộ cơ quan về công việc đã qua, những việc đang làm, những việc phải làm, đồng thời phải hiểu được những cơ sở pháp lý, chức năng quyền hạn quản lý những cơ quan, đơn vị mình phụ trách. Biết chọn lọc, xử lý các lọai  thông tin cho phù hợp với yêu cầu của văn bản.

III. Các loại hình văn bản quản lý

Trong công tác QLHCNN có rất nhiều loại hình VBQL và thẩm quyền ban hành chúng cũng khác nhau. Theo luật hiện hành, VBQL ở nước ta có các loại sau :

3.1. Văn bản pháp quy

Là những văn bản dưới luật, thuộc lĩnh vực lập quy, chứa đựng các nguyên tắc xử sự chung nhằm thực hiện và cụ thể hóa văn bản luật, áp dụng nhiều lần trong thực tế cuộc sống, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp và QLHCNN ban hành và sửa đổi theo dúng thẩm quyền của cơ quan.

  • Văn bản pháp quy của chính phủ:

Nghị quyết của chính phủ: Được dùng để ban hành các chủ trương chính sách lớn qui định nhiệm vụ, kế hoạch và ngân sách nhà nước, các công tác khác của chính phủ. Đây là cơ sở pháp lý để chính phủ và thủ tướng chính phủ ban hành các qui phạm pháp luật khác, Nghị quyết có chứa đựng qui phạm pháp luật hành chính.

Nghị định của chính phủ: Nghị đinh được sử dụng với tư cách là văn bản qui phạm pháp để cụ thể hóa luật pháp lệnh. Dùng để ban hành những qui định chi tiết về quyền và nghĩa vụ của công dân, qui định về nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức bộ máy của cơ quan hành chinh nhà nước và đơn vị cơ sở, qui định về quản lý hành chính nhà nước.

  • Văn bản pháp quy của Thủ tướng Chính phủ:

Quyết định của thủ tướng chính phủ: Quyết định của thủ tướng chính phủ dùng để chỉ đạo thực hiện hiến pháp pháp luật Quyết định của thủ tướng chính phủ có thể được dùng như văn bản qui phạm pháp luật hoặc văn bản áp dụng pháp luật.

Chỉ thị của thủ tướng chính phủ: Dùng để truyền đạt chủ trương chính sách, biện pháp quản lý, để chỉ đạo công tác với các ngành các cấp.

  • Văn bản pháp quy của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thuộc Chính phủ:

Quyết định chỉ thị, thông tư của bộ trưởng, các thành viên khác của chinh phủ: Những văn bản này có thể được dùng để ban hành các quy phạm pháp luật để điều chỉnh những quan hệ xã hội trong một hình thức nhất định.

  • Văn bản pháp quy của Hội đồng nhân dân và UBND các địa phương.

Hội đồng nhân dân các cấp được ra Nghị quyết. UBND các cấp được ban hành quyết định, Chỉ thị. Riêng UBND xã, phường và tương đương là đơn vị chính quyền cơ sở nên hình thức văn bản pháp quy được ban hành chủ yếu là quyết định, còn ít dùng chỉ thị.

Quyết định, chỉ thị của ủy ban nhân dân các cấp: Là những văn bản pháp luật được ủy ban nhân dân sử dụng để chỉ đạo quản lý trên mọi lĩnh ở địa phương.

  • Thông tư, thông tư liên bộ, nghị quyết liên tịch.

Nghị quyết liên tịch: Được sử dụng khi cơ quan hành chính nhà nước phối hợp với lãnh đạo một số tổ chức xã hội cùnh cấp phối hợp ban hành qui định hoặc để giải quyết đến những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các tổ chức đó.

Thông tư liên tịch: Thông tư liên tịch dùng để ban hành hoặc để hướng dẫn thực hiện một chính sách chế độ của nhà nước do nhiều bộ hoặc một bộ và lãnh đạo tổ chức xã hội phối hợp ban hành ( những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong tổ chức xã hội đó ). Thông tư liên tịch còn được dùng để ban hành hoặc hướng dẫn thực hiện một chính sách chế độ của nhà nước do Bộ phối hợp với viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc tòa án nhân dân tối cao cùng ban hành.

 

* Các cơ quan quản lý hành chính khác: Được ban hành một loại văn bản pháp quy là quyết định.

Ngoài các ngoại hình văn bản kể trên, trong các cơ quan hành chính còn có loại hình văn bản có hình thức văn bản pháp quy nhưng chứa đựng các quy tắc xử sự riêng cho những đối tượng cụ thể thuộc thẩm quyền, được gọi là văn bản cá biệt. Ví dụ : quyết định thành lập một tổ chức; bổ nhiệm một viên chức, khen thưởng, kỷ luật một đơn vị, một cá nhân v.v…

2. Văn bản hành chính thông thường

Là những văn bản mang tính thông tin, điều hành nhằm thực hiện các văn bản pháp quy hoặc dùng để giải quyết các nghiệp vụ cụ thể, phản ánh tình hình, giao dịch, trao đổi, ghi chép công việc… của các cơ quan hành chính Nhà nước.

Về hình thức, bao gồm: Công văn hành chính, thông cáo, thông báo, biên bản, điện báo (công điện và mất điện), giấy đi đường, giấy nghỉ phép, phiếu gửi, giấy giới thiệu, báo cáo, đề án, tờ trình, hợp đồng v.v…

Các loại văn bản này không mang tính cưỡng chế như các văn bản pháp quy, chúng vừa có ý nghĩa pháp lý, vùa có ý nghĩa thực tiễn trong hoạt động quản lý. Chúng được sử dụng phổ biến và chiếm một khối lượng lớn trong các cơ quan hành chính Nhà nước.

Việc phân định rõ hai loại hình văn bản trên giúp nhà quản lý định hướng đúng khi sử dụng chúng. Không thể lấy văn bản hành chính thay thế cho văn bản pháp quy và ngược lại.

3. Văn bản chuyên môn:

Là loại hình văn bản mang tính đặc thù chuyên môn nghiệp vụ được sử dụng trong các lĩnh vực: kế hoạch, thống kê, tài chính, ngân hàng, kho bạc, y tế, văn hoá, giáo dục – đào tạo v.v…

3.3. Văn bản kỹ thuật:

Là các giấy tờ được hình thành trong các lĩnh vực: kiến trúc, xây dựng, công nghệ, cơ khí, trắc địa, bản đồ, thủy văn khí tượng… bao gồm: các bản đồ án thiết kế, thi công, quy trình công nghệ, luận chúng kinh tế kỹ thuật v.v…

IV. Một số vấn đề kỹ thuật biên soạn văn bản quản lý hành chính

1. Yêu cầu chung

– Các văn bản ban hành phải theo đúng thẩm quyền pháp lý của cơ quan.

– Phải giải quyết đúng các mối quan hệ.

– Các phương thức giải quyết công việc trong văn bản phải rõ ràng, phù hợp.

– Bảo vệ đươc bí mật của Đảng và Nhà nước.

– Đảm bảo đúng thể thức do Nhà nước quy định: sử dụng ngôn từ và ban hành văn bản thích hợp.

– Những quy định về chế tài trong văn bản phải rõ ràng, cụ thể và đúng thẩm quyền.

– Hiệu lực của văn bản phải ghi rõ ràng về thời gian, đối tượng và phạm vi không gian.

– Lựa chọn thể loại văn bản phải chính xác, thích hợp.

2. Thể thức của văn bản.

Theo điều lệ của Nghị định 101/CP ngày 23.9.1997, thể thức văn bản quản lý phải có các yếu tố sau:

– Tiêu đề (quốc hiệu và tiêu ngữ).

– Tên cơ quan ban hành văn bản.

– Số và ký hiệu.

– Địa danh và ngày, tháng ban hành văn bản.

– Tên loại văn bản.

– Trích yếu văn bản.

– Nội dung văn bản.

– Chữ ký của người có thẩm quyền.

– Đóng dấu

– Nơi nhận văn bản.

– Các văn bản phụ kèm theo (nếu có).

Thể thưc của văn bản không chỉ mang tính hình thức mà có ý nghĩa thông tin về nội dung, đảm bảo hiệu lực pháp lý của văn bản. Do vậy phải đảm bảo đúng thể thức khi biên tập văn bản.

3. Ngôn ngữ và văn phong của văn bản quản lý.

a. Đặc điểm của văn phong hành chính.

– Nội dung trình bày trực tiếp, có tính khách quan.

– Ngắn gọn, chính xác, đầy đủ thông tin.

– Diễn đạt trôi chảy, trong sáng, mạch lạc.

– Cân đối, liên kết chặt chẽ giữa các câu, các phần.

3. Hành văn trong văn bản hành chính.

Về nguyên tắc, không có quy định về cách đặt câu cũng như độ dài của câu trong các VBQL hành chính, thực tế cho thấy việc sử dụng các câu thường rất linh hoạt.

– Các loại câu thường dùng trong các VBQL là câu chủ động, câu thủ động, câu khẳng định; không dùng câu nghi vấn và câu biểu cảm.

– Để ra lệnh hoặc để trả lời yêu cầu của cấp dưới, văn bản cấp trên thường dùng câu khẳng định, nhung có khi dùng câu phủ định lại mang tính lịch sự, phù hợp với đối tượng hơn.

– Cũng có khi phải đổi câu phủ định sang câu khẳng định để giảm bớt tính gay gắt. Đặc biệt khi từ chối một yêu cầu của cơ quan khác.

– Đôi khi dùng cách viết phủ định để nhấn mạnh một yêu cầu không thể bỏ qua.

– Có khi để nhấn mạnh một sự kiện, một nguyên nhân nào đó, người ta dùng cách đảo ngữ (thay đổi vị trí, sắp xếp các mệnh đề, các từ ngữ trong câu).

– Trong VBQL thường có những câu diễn đạt tổng quát, nhung có khi phải viết cụ thể để người đọc chú ý vào những đối tượng cần nhấn mạnh. Câu cụ thể thường dùng trong các văn bản diễn giải, giới thiệu vấn đề, thuyết phục một án, một đề nghị.

– Thường không dùng câu hoài nghi, phiếm định.

– Trong hành văn cần lưu ý sự liên kết các câu.

3. Về dấu câu

Dấu câu là phương tiện để làm rõ cấu trúc ngữ pháp, chỉ ranh giới giữa các đoạn, các câu, giữa các thành phần của câu. Có khi còn dùng để biểu thị sắc thái tế nhị và ngữ nghĩa của câu, về tư tưởng, thái độ của người viết. Trong VBQL cần sử dụng đúng các loại dấu câu, hầu như không dùng dấu (?), dấu cảm (!) và dấu lửng (…).

3.Sử dụng từ ngữ

Việc sử dụng từ ngữ trong VBQL không những nhằm miêu tả sự kiện, thông báo chủ trương, chính sách, các quy phạm, các mệnh lệnh v.v… mà còn phản ánh trình độ văn hoá, quan hệ giữa người viết và người đọc. Do vậy, từ ngữ phải có các chuẩn sau:

– Chính xác.

– Dể hiểu (hiểu theo một nghĩa).

– Khách quan.

– Trang trọng, lịch thiệp.

Cần tránh các từ quá cũ, khó hiểu, mang tính địa phương, tiếng lóng, tiếng tục, từ màu mè, bay bướm, hình tượng không thích hợp với văn phong hành chính công cụ.

Từ chuyên môn, kỹ thuật chỉ nên dùng trong lĩnh vực chuyên môn, kỹ thuật. Các từ cấu tạo bởi chữ ghép, viết tắt khi dùng phải giải thích. Từ nước ngoài phải phiên âm và giải nghĩa.

4. Quy trình biên tập một văn bản

Xác định rõ mục đích, yêu cầu, lựa chọn loại hình văn bản.

– Thu thập, chọn lọc, xử lý thông tin.

– Xây dàn bài, soạn đề cương.

– Viết thành văn, hoàn thiện và thông qua.

– Ký duyệt văn bản.

– Ban hành, triển khai văn bản.

5. Biên tập một số loại hình văn bản

a. Quyết định

* Là loại hình văn bản biểu thị ý chí của cơ quan Nhà nước hay của người lãnh đạo được xây dựng theo một trình tự nhất định, nhằm tổ chức và điều chỉnh các hoạt động và hành vi của con người để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước.

Quyết định là khâu cơ bản của quản lý, là chức năng số một của người lãnh đạo, người quản lý.

* Yêu cầu chung của một quyết định:

– Đảm bảo tính hợp pháp và hợp lý.

– Đảm bảo tính cụ thể, phù hợp với chủ thể ban hành và đối tượng thực hiện.

– Đảm bảo tính tính khoa học và tính quần chung.

– Kịp thời.

* Nội dung: Gồm 2 phần:

– Những căn cứ để ra quyết định (căn cứ pháp lý và căn cứ thực tiễn. Chỉ cần khái quát thành 2 – 3 căn cứ).

– Nội dung quyết định được viết thành điều, khoản, mục, chủ đề của quyết định thể hiện ở điều 1 của quyết định.

Người ký quyết định phải có đủ thẩm quyền và chịu trách nhiệm trước cơ quan về quyết định của mình.

 

 

TÊN CƠ QUAN                  CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

  SỐ:    /2002/….                                         Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

 

                                                                                ………, ngày …tháng….năm…

 

QUYẾT ĐỊNH CỦA…

Về…………………………

 

TÊN CƠ QUAN

            Căn cứ………………………………………………………………………………

Xét đề nhị của…………………………………………………………………….

QUYẾT ĐỊNH

                Điều 1: ………………………………………………………………………..                                                                               

Nơi nhận                                                                                                 

 

                             Nguyễn Văn A

 

 

5.2. Chỉ thị

* Là loại văn bản pháp quy dùng để ban hành những mệnh lệnh của người đứng đầu cơ quan Nhà nước, truyền đạt những chủ trương, chính sách, biện pháp quản lý, giao nhiệm vụ cho các đơn vị, cơ quan cấp dưới để giải quyết các nhiệm vụ.

* Yêu cầu của chỉ thị:

– Phù hợp với hoàn cảnh khách quan.

– Có sự hướng dẫn, chỉ ra hướng giải quyết.

– Tạo điều kiện đảm bảo thực hiện.

– Không quá cứng nhắc.

– Ngắn gọn, dể hiểu.

* Nội dung của chỉ thị (thường có 2 phần)

– Phần 1 : Nhận định khái quát tình hình.

– Phần 2: Đề cập tới những mệnh lệnh, biện pháp, cách tổ chức và trách nhiệm thực hiện (Đây là phần trọng tâm).

Mỗi chỉ thị chỉ nên chứa đựng 3 -4 mệnh lệnh. Không sử dụng chế tài xử lý như các văn bản pháp luật khác.

Hành văn trong chỉ thị phải trang trọng, dứt khoát, câu văn theo lối chủ động, dễ hiểu đồng thời phải có sức thuyết phục để chỉ thị được chấp nhận trong thực tế.

 

 

TÊN CƠ QUAN                  CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

  SỐ:    /2002/….                                         Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

 

CHỈ THỊ CỦA…

Về…………………………

TÊN CƠ QUAN

            Căn cứ……………………………………………………………………………….

Xét đề nhị của…………………………………………………………………….

1_____________________________________________

2_____________________________________________

 

Nơi nhận                                                                         

 

                                                                                ………, ngày …tháng….năm…

 

BÀI TẬP

BÀI 1:

Nguyễn Thanh Danh là chấp hành viên phòng thi hành án tỉnh Q, Ngày 15/10/2003 đã được bổ nhiệm chức vụ trưởng phòng thi hành án.

            Anh (chị) hãy sọan thảo quyết định trên.

BÀI 2:

Ngày 10/4/2003 công dân Lê Văn An, 25 tuổi thường trú tại phường Phú nhuận, thành phố Huế có hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông (điều khiển xe Ô tô chạy quá tốc độ cho phép 20%) bị chiến sĩ cảnh sát thuộc phòng cảnh sát giao thông tỉnh K đang làm nhiệm vụ lâp biên bản tạm giữ phương tiện (xe ô tô), ngày 15/4/2003 trưởng phòng cảnh sát giao thông tỉnh K ra quyết định xử phạt hành chính công dân Lê Văn An hình thức phạt tiền, mức phạt 500.000đ đồng thời trả lại phương tiện cho Lê Văn An, nhưng buộc Lê Văn An phải nộp phí lưu bãi là 150.000đ.

            Anh (chị) hãy soạn thảo quyết định xử phạt nói trên.

BÀI 3:

Ngày 20/10/1999 Ông Nguyễn Văn Ruộng 50 tuổi thường trú tại xã Thanh Thuỷ, huyện Hương Thuỷ có hành vi lấn chiếm đất công để xây dựng nhà, ngày 25/10/1999 UBND Huyện lập biên bản vi phạm, đình chỉ việc xây dựng của Ông Nguyễn Văn Ruộng, sau một thời gian thấy UBND Huyện không cưỡng chế tháo dỡ, ngày 5/11/2001 Ông Nguyễn Văn Ruộng tiếp tục xây dựng thêm nhà bếp và công trình phụ, ngày 10/11/2001 UBND Huyện lại lập biên bản về hành vi vi phạm của A đến ngày 15/11/2001 chủ tịch UBND Huyện  ra quyết định xử phạt Ông Nguyễn Văn Ruộng 500.000đ và áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trái phép.

            Anh (chị) hãy soạn thảo quyết định xử phạt nêu trên.

 BÀI 4:

  1. Nguyễn văn Anh, 22 tuổi là sinh viên tốt nghiệp ngành luật đã, trúng tuyển trong kỳ thi tuyển công chức ngạch giảng viên của ĐH Huế năm 2003. Anh (chị) Hãy soạn thảo quyết định tuyển dụng công chức A.
  2. Hoàng Văn B, 20 tuổi, thường trú tại phường Vĩ Dạ Thành Phố Huế có hành vi điều khiển xe mô tô không có bằng lái, bị công an thành phố Huế lập biên bản và ra quyết định xử phạt hành chính. Anh (chị) Hãy soạn thảo quyết định xử phạt hành chính đối với Hoàng Văn B.

Nguồn: sinhvienluat.vn

  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: