Bài tập nhóm Luật Thương mại quốc tế – đề 2


Đề 2: Phân tích và bình luận về việc áp dụng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) trong quan hệ thương mại quốc tế.

A/ ĐẶT VẤN ĐỀ

Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) là kết quả của các cuộc đàm phán liên chính phủ được tổ chức dưới sự bảo trợ của Hội nghị Thương mại và Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCTAD) năm 1986. Đến nay, chế độ ưu đãi này được áp dụng ngày càng rộng rãi trong quan hệ thương mại quốc tế.

B/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1.       Khái niệm và đặc điểm của GSP

  • Khái niệm:

Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) là một chế độ ưu đãi đặc biệt mà trong đó, những nước phát triển đơn phương, tự nguyện dành cho sản phẩm của các nước đang phát triển hưởng thuế suất nhập khẩu thấp hơn so với sản phẩm cùng loại của các nước phát triển khác.

  • Đặc điểm:

–         Chủ thể: Nước cho hưởng GSP là các nước phát triển, nước thụ hưởng GSP là các nước đang phát triển. Các nước cho hưởng lập danh sách những quốc gia mà mình cho hưởng GSP và có thể thay đổi nó;

–         Thời hạn hưởng GSP do các nước cho hưởng quyết định, thường là kéo dài từ 10 đến 30 năm.

–         Đối tượng áp dụng: hàng hóa có xuất xứ từ các nước thụ hưởng khi xuất khẩu vào nước cho hưởng. Nước cho hưởng  cũng lập danh mục các mặt hàng được hưởng GSP và có thể thay đổi danh mục này;

–         Phạm vi và mức độ ưu đãi: GSP được áp dụng đồi với thuế nhập khẩu của các mặt hàng đến từ các nước đang phát triển dựa trên mức thuế suất của chế độ đối xử tối huệ quốc (MFN). Nhìn chung mức thuế suất được hưởng GSP thường rất thấp, thậm chí miễn hoàn toàn;

–         Các nước phát triển đơn phương, tự nguyện dành ưu đãi thuế quan phổ cập cho các nước đang phát triển và không đòi hỏi các nước hưởng ưu đãi phải thực hiện cam kết thương mại trên cơ sở có đi có lại. Hay nói cách khác, chế độ GSP là các ưu đãi mang tính một chiều mà nước phát triển dành cho nước đang phát triển.

2.       Cơ chế áp dụng GSP trong quan hệ thương mại quốc tế

a.     Điều kiện được hưởng GSP:

Quy tắc xuất xứ hàng hóa: Mục đích chính của quy tắc xuất xứ: Một là đảm bảo những ưu đãi của GSP chỉ được dành cho những sản phẩm mà thực sự có được do thu hoạch, sản xuất, gia công hoặc chế biến ở những nước xuất khẩu được hưởng; Hai, là những sản phẩm xuất xứ ở một nước thứ ba, ví dụ là một nước khôngđược hưởng, chỉ quá cảnh qua, hoặc đã chỉ trải qua một giai đoạn chế biến không đáng kể hoặc không ảnh hưởng tới thành phần, bản chất của sản phẩm tại một nước được hưởng ưu đãi, sẽ không được hưởng ưu đãi từ chế độ GSP. Các yếu tố chính của quy tắc xuất xứ: Tiêu chuẩn xuất xứ; điều kiện về vận chuyển; chứng từ xác nhận hai điều trên.

Quy tắc thành phần nước cho hưởng: Hiện nay, một số nước cho hưởng ưu đãi áp dụng quy tắc này để xác định xuất xứ hàng hóa. Quy tắc cho phép sản phẩm (nguyên liệu, bộ phận và phụ tùng) sản xuất tại nước cho hưởng, nếu được cung cấp cho một nước hưởng ưu đãi và được sử dụng ở đó để gia công chế biến, thì sẽ được coi là sản phẩm có xuất xứ tại nước hưởng ưu đãi nhằm xác định xuất xứ của thành phẩm.

Xuất xứ cộng gộp: Về cơ bản, GSP được dựa trên khái niệm xuất xứ một nước đơn nhất. Nói cách khác, các tiêu chuẩn xuất xứ phải được tuân thủ đầy đủ tại một nước được hưởng mà đồng thời là nước sản xuất sản phẩm hoàn thiện cuối cùng. Theo quy định của một số nước cho hưởng, chế độ GSP đã được mở rộng để một số sản phẩm có thể được sản xuất và hoàn thiện tại một nước được hưởng từ các nguyên liệu, bộ phận hoặc thành phần nhập khẩu từ những nước được hưởng nói trên. Do đó, xuất xứ cộng gộp được đưa ra với phạm vi rộng và theo nhiều điều kiện khác nhau. Theo hệ thống cộng gộp, các quá trình gia công và trị giá gia tăng tại nhiều nước được hưởng có thể được cộng vào cùng nhau (“được cộng gộp”) để xác định sản phẩm hoàn thiện xuất khẩu có đáp ứng tiêu chuẩn xuất xứ GSP hay không.

  1. b.     Một số trường hợp hàng hóa bị ngừng hưởng GSP:

Tùy vào hoàn cảnh kinh tế của từng quốc gia mà các nước cho hưởng đưa ra các lí do ngừng dành GSP cho nước được hưởng. Tuy nhiên, nhìn chung lí do dễ nhận thấy nhất là các nước cho hưởng lo ngại sức cạnh tranh của hàng hóa hưởng GSP sẽ lấn át phần lớn thị trường nội địa và làm suy giảm sức cạnh tranh của hàng hóa nước mình. Thông thường các nước cho hưởng dựa vào hai tiêu chuẩn là nước trưởng thành và hàng trưởng thành để loại một số nước và mặt hàng khỏi danh sách hưởng GSP. Tiêu chuẩn “nước trưởng thành” được đánh giá thông qua một mức GDP/người/năm nhất định, còn “hàng trưởng thành” có thể được xác định bằng mức trần về kim ngạch nhập khẩu. Loại bỏ những nước và mặt hàng khỏi danh mục hưởng GSP là một biện pháp bảo hộ hàng hóa nội địa của chính phủ các nước phát triển.

3.       Áp dụng GSP trong quan hệ thương mại quốc tế – cơ hội và thách thứ

a.     Cơ hội:

Việc áp dụng GSP trong quan hệ thương mại quốc tế tạo ra nhiều cơ hội hợp tác và tăng trưởng kinh tế cho nhóm nước đang phát triển và chậm phát triển. Trước hết, thông qua GSP, nước cho hưởng đã mở rộng “cánh cửa” thị trường cho quốc gia thụ hưởng. Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho các nước thụ hưởng tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao sức cạnh tranh và tạo dựng “chỗ đứng” vững chắc cho các mặt hàng xuất khẩu của mình trên thị trường quốc tế. Hơn thế, rõ ràng GSP còn đề ra hướng chiến lược phát triển ngành kinh tế chủ lực cho các nước đang phát triển. Bởi lẽ những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao sẽ trở thành sản phẩm chính để các nước này tập trung chuyên môn hóa sản xuất với quy mô ngày càng lớn và hiện đại dựa vào phát huy những lợi thế sẵn có. Đối với các doanh nghiệp của nước thụ hưởng, GSP tạo ra cơ hội giao lưu, học hỏi kinh nghiệm cũng như hợp tác thuận lợi với những công ty, tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu trên thế giới.

b.     Thách thức:

GSP chẳng những tao ra cơ hội phát triển kinh tế cho các nước thụ hưởng, mà nó còn đồng thời đặt ra không ít thách thức đối với họ. Để tận dụng tối đa lợi thế thụ hưởng GSP, các nước đang phát triển và chậm phát triển phải nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu của mình nhằm chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng tại các quốc gia phát triển, từ đó tạo thế và lực cạnh tranh trên trường quốc tế. Tuy nhiên, muốn hoàn thành mục tiêu đó, nhóm nước thụ hưởng GSP cần nỗ lực cải cách bộ máy hành chính, hoàn thiện hệ thống pháp luật; thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài vào phát triển sản xuất kinh doanh, đặc biệt các ngành sản xuất mặt hàng xuất khẩu chủ lực; tiếp thu chuyển giao khoa học công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất theo hướng chuyên môn hóa, hiện đại hóa,… Rõ ràng, GSP đặt ra cho các nước thụ hưởng những thách thức trong nhiều lĩnh vực đòi hỏi các quốc gia này nhanh chóng tìm kiếm giải pháp phát triển ngoại thương hữu hiệu.

c.      Liên hệ với Việt Nam:

Khi Việt Nam ra nhập vào cộng đồng kinh tế thế giới như WTO, AFTA… các quan hệ thương mại giữa nước ta và những quốc gia khác ngày càng phát triển phức tạp. Vị thế kinh tế của Việt Nam còn thấp kém, sản phẩm xuất khẩu có chất lượng chưa cao hoặc chất lượng cao nhưng thiếu sức cạnh tranh với hàng hóa của các nước phát triển khác.Vì vậy với Việt Nam, việc nghiên cứu và áp dụng một cách tối ưu GSP là điều rất cần thiết cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Hiện nay Việt Nam được nhiều quốc gia phát triển và tổ chức liên chính phủ trên thế giới cho hưởng GSP, ví dụ: Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ, Úc,… Tuy nhiên chúng ta còn vấp phải nhiều vướng mắc trong một số vấn đề như: việc xin cấp C/O còn nhiều tồn tại; xuất hiện hiện tượng làm giả C/O; doanh nghiệp chưa nắm được những kiến thức cơ bản về C/O, quy tắc và tiêu chuẩn xuất xứ hàng hóa, thông tin cụ thể về chế độ GSP mà một số nước phát triển cho Việt Nam hưởng; những sai lầm của một bộ phận cán bộ hải quan thiếu năng lực và trách nhiệm… dẫn tới chưa tận dụng được tối đa những lợi ích mà GSP mang lại, thậm chí làm giảm sút sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu.

Từ những khuyết điểm tồn tại nêu trên, hiện nay chúng ta cần nhanh chóng tiến hành ngay các biện pháp như: ban hành các văn bản pháp luật quy định chặt chẽ về vấn đề xin cấp, quản lý việc xin cấp C/O (Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa); nâng cao chất lượng và cải tổ đội ngũ cán bộ hải quan; xây dựng kênh thông tin chính thức về chế độ GSP mà Việt Nam được hưởng phân theo quốc gia cho hưởng và mặt hàng xuất khẩu được hưởng; tiến hành tối giản hóa thủ tục hải quan nhằm khuyến khích doanh nghiệp đưa mặt hàng của mình xuất sang thị trường khu vực và thế giới,… Ngoài các biện pháp trên Việt Nam cũng đồng thời phải tiến hành các giải pháp dài hạn khác nhằm thúc đẩy ngoại thương, chẳng hạn: mở rộng quan hệ ngoại giao hợp tác sâu rộng với các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, liên kết cùng các nước thành viên khác của ASEAN để xây dựng khối liên minh kinh tế phát triển năng động, tạo đà tăng sức cạnh tranh trên trường quốc tế,…

C/ KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Thực vậy, việc áp dụng chế độ GSP đã góp phần tích cực thúc đẩy quan hệ thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt, đối với những nước đang phát triển như Việt Nam, nó tạo ra cơ hội tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, nhưng đồng thời cũng đưa đến nhiều thách thức về nhiều mặt. Từ đó, đòi hỏi các chủ thể của quan hệ thương mại quốc tế cần tập trung phát huy thế mạnh, hạn chế nhược điểm và cải tiến kịp thời phương pháp quản lý, quy trình sản xuất nhằm hưởng những tác dụng tối ưu mà GSP mang lại.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trường Đại học Luật Hà Nội, giáo trình Luật Thương mại quốc tế, nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, năm 2010;
  2. Hanoi Law University, Textbook International Trade and Business Law, People’s Public Security Publishing House, Hanoi, 2012. (Giáo trình song ngữ Anh-Việt do EU tài trợ trong khuôn khổ Dự án EU-Việt Nam MUTRAP III);
  3. Khóa luận tốt nghiệp, “chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP)”.
  4. Các website:

–         http://trungtamwto.vn/;

–         http://xuatnhapkhauvietnam.com/cac-vuong-mac-cua-doanh-nghiep-ve-che-do-uu-dai-thue-quan-pho-cap-gsp-phan-2.html#ixzz23iKOk060;

  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: