Bài tập nhóm Luật lao động – Đề số 4


Đề bài 4:

Bà V là viên chức nhà nước từ năm 1985. Năm 1991 bà được cử sang làm việc ở một tổ chức từ thiện nước ngoài CR theo hợp đồng lao động có thời hạn một năm. Trong hợp đồng lao động có ghi : “ Người lao động được thanh toán trợ cấp thôi việc theo mức mỗi năm làm việc là một tháng lương với điều kiện đã làm việc tại RC từ hai năm trở lên”. Sau đó, các hợp đồng xác định thời hạn trong các năm từ 1991 đến 2007 đều giữ nguyên cam kết nói trên.

Tháng 8/2008 bà V nghỉ hưu. Sau khi nghỉ hưu bà vẫn tiếp tục làm việc tại CR (công việc cũ). Tháng 02/2009 hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động. Sau khi chấm dứt hợp đồng lao động bà V làm đơn yêu cầu CR phải trả bà khoản trợ cấp thôi việc. Tổ chức CR cho rằng bà V về hưởng chế độ hưu trí nên không được hưởng trợ cấp thôi việc. Bà V làm văn bản hỏi ý kiến của một văn phòng Luật sư X và nhận được trả lời là  CR phải trả trợ cấp thôi việc vì mặc dù về hưu song bà vẫn tiếp tục làm việc,có nghĩa hợp đồng lao động chưa chấm dứt ở thời điểm nghỉ hưu.

Hỏi:

1. Hãy bình luận về ý kiến của Văn phòng Luật sư X trong vụ việc trên.(3 điểm)

2. Quyền lợi về trợ cấp thôi việc của bà V được giải quyết như thế nào?(3 điểm)

3. Quyền lợi của bà V trong thời gian làm việc tại CR sau khi đã nghỉ hưu (sau tháng 8/2008)?(4 điểm)

1.Hãy bình luận về ý kiến của Văn phòng Luật sư X trong vụ việc trên.

          Trước hết cần khẳng định, ý kiến của Văn phòng Luật sư X cho rằng bà V được nhận trợ cấp thôi việc là sai.

          Thứ nhất, trong thời gian từ năm 1991 đến 8/2008.

          Bà V là viên chức nhà nước từ năm 1985, và bà V được cơ quan nhà nước cử sang tổ chức CR làm việc từ năm 1991 đến tháng 8/2008 bà nghỉ hưu, như vậy khoảng thời gian làm việc của bà V ở tổ chức CR cho đến thời hạn bà nghỉ hưu là 18 năm.Căn cứ vào Điều 145 BLLĐ, bà V sẽ được hưởng chế độ hưu trí.

          Theo khoản 1 Điều 14 Nghị định 44/2003/NĐ-CP về trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động: “Trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 85 và nghỉ hưởng chế độ hưu trí hàng tháng quy định tại Điều 145 của Bộ luật lao động đã sửa đổi bổ sung người lao động không được trợ cấp thôi việc”.

          Điều này cũng được khẳng định tại điểm b, mục 2, phần III thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/09/2003: Người lao động nghỉ việc để hưởng chế độ hưu trí hàng tháng theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Lao động thì không được trợ cấp thôi việc.

Như vậy, khi bắt đầu nghỉ hưu từ tháng 8/2008 thì bà V coi như đã kết thúc hợp đồng với tổ chức CR và bắt đầu được hưởng chế độ hưu trí, đồng thời bà V sẽ không được nhận trợ cấp thôi việc trong khoảng thời gian đó nữa (theo khoản 1 Điều 14 Nghị định 44/2003/NĐ-CP).

Thứ hai, trong khoảng thời gian từ 8/2008 đến 2/2009.

Từ sau khi nghỉ hưu, bà V vẫn tiếp tục làm cho tổ chức CR cho tới tháng 2/2009. Có thể thấy rằng, trong khoảng thời gian từ 8/2008 đến 2/2009, bà V và tổ chức CR không kí thêm hợp đồng nào, nên có thể hiểu rằng cả hai bên vẫn giữ nguyên các thỏa thuận trong hợp đồng cũ đã được kí kết trong các năm từ 1991 đến 2007. Căn cứ theo khoản 2 Điều 27 “Khi hợp đồng quy định tại điểm b và c khoản 1 điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải kí kết hợp đồng lao động mới; nếu không kí kết hợp đồng lao động mới, hợp đồng đã giao kết trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn” như vậy hợp đồng mới này sẽ được coi là hợp đồng không xác định thời hạn. Tháng 2/2009, hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động. Theo khoản 2 Điều 36 thì việc hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động được coi là căn cứ chấm dứt hợp đồng.

Theo khoản 1 Điều 42 BLLĐ thì “Khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ đủ 12 tháng trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc…” kết hợp với việc thỏa thuận của 2 bên trong hợp đồng đó là: “mỗi năm làm việc là một tháng lương với điều kiện đã làm việc tại công ty 2 năm trở lên”. Thời gian làm việc của bà V từ sau khi nghỉ hưu đến khi chấm dứt hợp đồng là 6 tháng vì vậy bà V sẽ không được nhận trợ cấp thôi việc do không đủ điều kiện về thời gian.

Như vậy, trong khoảng thời gian bà V làm việc cho CR từ năm 1991 cho đến khi chấm dứt hợp đồng vào tháng 2/2009 thì bà V sẽ không nhận được trợ cấp thôi việc. Do vậy, ý kiến của Văn phòng luật sư X là sai.

2. Quyền lợi về trợ cấp thôi việc của bà V được giải quyết như thế nào?

Trợ cấp thôi việc là một trong những chế độ đảm bảo cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động. Bản chất của trợ cấp thôi việc là sự bù đắp cho tiền lương chưa tương xứng với sức lao động mà người lao động đã bỏ sau một thời gian cống hiến nhất định cho doanh nghiệp. Chỉ khi đủ các điều kiện do pháp luật quy định thì người lao động mới được nhận trợ cấp thôi việc.

Theo qui định tại khoản 2 mục III thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22-9-2003 của Bộ LĐ-TB&XH thì  các trường hợp được trợ cấp thôi việc và không được trợ cấp thôi việc theo khoản 1 Điều 14 của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP được quy định cụ thể như sau:

“a) Các trường hợp được trợ cấp thôi việc:

– Người lao động chấm dứt hợp đồng theo Điều 36; Điều 37; các điểm a, c, d khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 41; điểm e khoản 1 Điều 85 của Bộ luật Lao động.

– Người lao động làm việc trong doanh nghiệp nhà nước được tuyển dụng trước khi có chế độ hợp đồng lao động, thì khi nghỉ việc được tính trợ cấp thôi việc như người đã ký hợp đồng lao động.

– Người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động do doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Lao động là các trường hợp: Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức được cấp có thẩm quyền quyết định giải thể, Tòa án tuyên bố phá sản, giấy phép hoạt động đã hết hạn, doanh nghiệp vi phạm pháp luật bị cơ quan có thẩm quyền rút giấy phép hoạt động hoặc thu hồi giấy phép đăng ký kinh doanh.

b) Các trường hợp không được trợ cấp thôi việc bao gồm:

– Người lao động bị sa thải theo điểm a và điểm b, khoản 1 Điều 85 của Bộ luật Lao động.

– Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà vi phạm về lý do chấm dứt hoặc thời hạn báo trước quy định tại Điều 37 của Bộ luật Lao động.

– Người lao động nghỉ việc để hưởng chế độ hưu trí hàng tháng theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Lao động.

– Người lao động chấm dứt hợp đồng lao động theo khoản 1 Điều 17 và Điều 31 của Bộ luật Lao động đã được hưởng trợ cấp mất việc làm.”

Theo đề bài, đến tháng 8/2008 bà V có đủ các điều kiện qui định về tuổi đời và thời gian đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) từ năm 1985 đến năm 2008 là 23 năm nên bà được hưởng chế độ hưu trí hằng tháng theo qui định tại khoản 1 điều 45 BLLĐ:

“1- Người lao động được hưởng chế độ hưu trí hằng tháng khi có đủ điều kiện về tuổi đời và thời gian đã đóng BHXH như sau:

a) Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi. Tuổi đời được hưởng chế độ hưu trí của những người làm các công việc nặng nhọc, độc hại hoặc làm việc ở vùng cao, biên giới, hải đảo và một số trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ qui định;

b) Đã đóng bảo hiểm xã hội 20 năm trở lên.”

Theo quy định này thì bà V không được trợ cấp thôi việc vì bà đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng.

Sau thời điểm nghỉ hưu bà V vẫn tiếp tục làm việc tại tổ chức CR với công việc cũ của mình nên theo quy định tại khoản 2, điều 124 Bộ luật lao động: “Khi đã nghỉ hưu, nếu làm việc theo hợp đồng lao động mới, thì ngoài quyền lợi theo chế độ hưu trí, người lao động cao tuổi vẫn được hưởng quyền lợi  đã thỏa thuận theo hợp đồng lao động”. Vì vậy, sau khi nghỉ hưu bà V vẫn hoàn toàn có thể ký hợp đồng lao động với tổ chức CR nếu bà có nhu cầu và quyền lợi của bà V sẽ vẫn được hưởng theo hợp đồng lao động. Theo quy định tại điểm a, khoản 2, mục I của thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH quy định về hình thức, nội dung và loại hợp đồng lao động thì: “ Riêng đối với người lao động đã nghỉ hưu, hai bên được ký kết nhiều lần loại hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng” nếu bà V ký kết hợp đồng lao động này với tổ chức CR hoặc giả sử bà V và tổ chức CR vẫn thực hiện theo hợp đồng trước đó có điều khoản là: “Người lao động được thanh toán trợ cấp thôi việc theo mức mỗi năm làm việc là một tháng lương với điều kiện đã làm việc tại CR từ hai năm trở lên” thì thời gian bà V làm việc thực tế cho tổ chức CR từ tháng 8/2008 đến tháng 2/2009 là thời điểm bà V với tổ chức CR thỏa thuận chấm dứt hợp đồng chỉ là 6 tháng, chưa đủ 12 tháng nên theo quy định tại Điều 42 Bộ luật lao động thì bà V không được hưởng trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động với tổ chức CR.

Dưới góc độ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động thì quy định về việc người lao động không được trả trợ cấp khi họ chấm dứt hợp đồng lao động để nghỉ hưởng chế độ hưu trí hằng tháng theo hướng dẫn tại điều 14 nghị định 44/2003 là không hợp lí. Bởi vì trợ cấp thôi việc là trách nhiệm của người sử dụng lao động chứ không phải trách nhiệm của cơ quan bảo hiểm xã hội, việc chi trả trợ cấp thôi việc không ảnh hưởng đến quyền được hưởng bảo hiểm xã hội của người lao động.

3. Quyền lợi của bà V trong thời gian làm việc tại CR sau khi đã nghỉ hưu (sau tháng 8/2008)?

Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Lao động quy định: “Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo”. Như vậy sau khi đã nghỉ hưu, người lao động nếu còn có đủ sức khỏe và mong muốn được tiếp tục làm việc, cống hiến cho xã hội vẫn có thể kí hợp đồng lao động với công ty để tiếp tục làm việc. Trường hợp của bà V, tháng 8/2008 bà đã nghỉ hưu và hưởng chế độ hưu trí hàng tháng, nhưng vẫn tiếp tục làm việc tại công ty với công việc cũ. Đối với những trường hợp sau khi đã về hưu mà nay tiếp tục ký hợp đồng lao động thì được giao kết hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo công việc có thời hạn dưới 12 tháng. Khi hợp đồng này hết hạn, nếu người sử dụng có nhu cầu vẫn có thể tiếp tục ký hợp đồng lao động có thời hạn mới mà không phải chuyển sang hợp đồng không xác định thời hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Bộ luật Lao động. Theo quy định tại khoản 2 Điều 124 BLLĐ thì “Khi đã nghỉ hưu, nếu làm việc theo hợp đồng lao động mới, thì ngoài quyền lợi theo chế độ hưu trí, người lao động vẫn được hưởng quyền lợi đã thỏa thuận theo hợp đồng lao động”. Như vậy những thỏa thuận trong hợp đồng lao động của bà V với CR là một trong những căn cứ để xác định quyền lợi của bà V trong thời gian làm việc tại CR sau khi đã nghỉ hưu.

Tuy nhiên, về cơ bản, bà V có những quyền lợi sau:  hưởng chế độ hưu trí hàng tháng do bảo hiểm xã hội chi trả, có thể kí hợp động lao động trong thời hạn bao lâu là tùy ý và hưởng tiền lương bao gồm tiền lương theo công việc, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền tàu xe, nghỉ hằng năm.

Hưởng chế độ hưu trí hàng tháng do bảo hiểm xã hội chi trả:

          Khoản 2 Điều 119 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 quy định Hồ sơ hưởng lương hưu đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cần có Quyết định nghỉ việc đối với người đang đóng bảo hiểm xã hội, do đó bà V phải có quyết định nghỉ việc của tổ chức CR thì mới có thể làm được hồ sơ để hưởng chế độ hưu trí hàng tháng. Vì vậy, sau khi bà V làm đầy đủ hồ sơ hưởng chế độ hưu trí hàng tháng xong thì vẫn tiếp tục làm việc tiếp tại tổ chức CR. Vì vậy, việc từ tháng 8/2008 thời điểm bà V nghỉ hưu đến tháng 2/2009 rơi vào trường hợp kí hợp đồng lao động đối với người đang hưởng chế độ hưu trí. Bà V là đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội 2006: “Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên” (từ năm 1985 đến 8/2008) và tổ chức từ thiện nước ngoài CR với vai trò là người sử dụng lao động và thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội 2006.

Căn cứ vào Điều 50 Luật bảo hiểm xã hội về điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 145 Bộ luật Lao động: “1. Người lao động được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng khi có đủ điều kiện về tuổi đời và thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội như sau:

b) Đã đóng bảo hiểm xã hội 20 năm trở lên”.

Do đề bài không đề cập chính xác thời điểm mà bà V bắt đầu đi làm và phải đóng bảo hiểm, nên việc xác định thời điểm đó có thể có hai trường hợp: Thứ nhất, bà V làm việc trước tháng 2/1985. Khi đó, bà sẽ có 23 năm làm việc tại CR. Thứ hai, bà V làm việc sau tháng 2/1991 thì bà sẽ có 22 năm 6 tháng làm việc tại CR. (theo quy định tại Khoản 5 Điều 14 Nghị định 44/2003/NĐ-CP về làm tròn thời gian làm việc khi có tháng lẻ đối với người lao động làm việc trên 12 tháng). Theo đề bài thì tháng 8/2008 bà V nghỉ hưu, ta có thể mặc định là bà V nghỉ hưu đúng tuổi (55 tuổi). Thời gian làm việc của bà V trong hai trường hợp nêu trên là 23 năm và 22 năm 6 tháng. Cả hai trường hợp này đều trên 20 năm đóng bảo hiểm và bà V đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí hàng tháng. Đồng thời, về mức lương hưu hàng tháng mà bà V được hưởng sẽ tính theo quy định tại khoản 1 Điều 28 nghị định 152/2006/NĐ-CP: “ 1. Người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 26 Nghị định này, mức lương hưu hàng tháng được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 31 Nghị định này tương ứng với 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%”.

-Có thể kí hợp động lao động trong thời hạn bao lâu là tùy ý

          Khoản 1 Điều 124 Bộ luật Lao động quy định: “Nếu có nhu cầu, người sử dụng lao động có thể thỏa thuận với người lao động cao tuổi kéo dài thời hạn hợp đồng hoặc giao kết hợp đồng lao động mới theo quy định tại Chương IV của Bộ luật này”.

          Điểm a, khoản 2 mục I thông tư 21 : “ 2. Việc áp dụng các loại hợp đồng lao động theo Điều 4 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP được quy định cụ thể như sau:

a) Người sử dụng lao động và người lao động căn cứ vào thời hạn của công việc để áp dụng một trong các loại hợp đồng lao động quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều 4 của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP;

Riêng đối với người đã nghỉ hưu, hai bên được ký kêt nhiều lần loại hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng”.

Như vậy, theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Lao động, điểm a khoản 2 mục I thông tư 21/2003 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP thì: Bà V có thể ký hợp đồng lao động với tổ chức CR trong thời hạn bao lâu là tùy ý.

-Hưởng tiền lương: Bao gồm tiền lương theo công việc, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền tàu xe, nghỉ hằng năm:

Căn cứ khoản 2, Điều 5 của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09 tháng 05 năm 2003 của Chính phủ về Hợp đồng lao động có quy định: Đối với hợp đồng lao động ký với người đã nghỉ hưu, người làm công việc có thời hạn dưới 03 tháng thì khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền tàu xe, nghỉ hàng năm được tính gộp vào tiền lương hoặc tiền công của người lao động. Do vậy, kể từ tháng 8/2008 (sau khi nghỉ hưu) đến tháng 2/1009 khi bà V vẫn làm việc tại CR thì CR phải trả các khoản tiền trên cùng với tiền lương tiền công cho bà V hàng tháng. Ngoài ra bà V vẫn được hưởng tiền lương từ chế độ hưu trí như bình thường. Thứ hai về các quyền lợi khác của bà V như thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, nghỉ phép cũng được đảm bảo theo quy định của pháp luật. Theo Ðiều 68 luật lao động quy định: thời giờ làm việc không quá 8 giờ trong một ngày hoặc 48 giờ trong một tuần. Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần, nhưng phải thông báo trước cho người lao động biết. Thời giờ làm việc hàng ngày được rút ngắn từ một đến hai giờ đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ LĐ-TB&XH và Bộ Y tế ban hành. Về thời gian nghỉ ngơi thì quyền lợi của bà V cũng được đảm bảo theo như quy định tại các Điều từ Điều 71 đến Điều 77 BLLĐ. Vì Luật Lao động nước ta không có quy định về mức thời gian tối thiểu khi ký HĐLĐ nên nếu như bà V sau khi nghỉ hưu chỉ làm bán thời gian thì các chế độ mà bà V được hưởng cũng giống như những người lao động làm việc đủ 8giờ/ngày.

Cụ thể về vấn đề chế độ tiền lương đối với bà V là người đã nghỉ hưu nhưng vẫn được thuê tiếp tục làm việc, theo quy định tại khoản 2, điều 1 mục II Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH sửa đổi bổ sung một số điểm của Thông tư số 21/2003/TT-BLĐBXH ngày 22/9/2003 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003 của Chính phủ về hợp đồng lao động thì:

“2. Hợp đồng lao động giao kết với người đang hưởng lương hưu hàng tháng và người làm việc có thời hạn dưới 03 tháng thì ngoài phần tiền lương theo công việc, người lao động còn được người sử dụng lao động thanh toán khoản tiền tính theo tỷ lệ phần trăm (%) so với tiền lương theo hợp đồng lao động, gồm:

a) Bảo hiểm xã hội: từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành đến tháng 12 năm 2009 là 15%; từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 12 năm 2011 là 16%; từ tháng 01 năm 2012 đến tháng 12 năm 2013 là 17%; từ tháng 01 năm 2014 trở đi là 18%.

b) Bảo hiểm y tế 2%. Khi Chính phủ quy định tăng mức đóng bảo hiểm y tế đối với người sử dụng lao động thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.

c) Nghỉ hàng năm 4%.

d) Tiền tàu xe đi lại khi nghỉ hàng năm do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động.

  1. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Bộ luật lao động của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi bổ sung 2002, 2006, 2007)
    2. Luật bảo hiểm xã hội 2006.
    3. Nghị định số 152/2006/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc
    4. Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về hợp đồng lao động.
    5. Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành một số điều của nghị định số 44/2003/NĐ-CP.
    6. Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH sửa đổi bổ sung một số điểm của Thông tư số 21/2003/TT-BLĐBXH ngày 22/9/2003 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003 của Chính phủ về hợp đồng lao động.
    7. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật lao động Việt Nam, Nxb. CAND.

    • phuongnguyen
    • September 17th, 2012

    C ơi bài này được mấy điểm thế?

  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: