Bài tập nhóm 1 Tố tụng hình sự – nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật


A.   Đặt vấn đề

Hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động nhân danh quyền lực của Nhà nước để tuyên một bản án kết tội hay không kết tội bị cáo. Phán quyết của Tòa án ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Do đó, yêu cầu tối cao và cũng là cái mốc để đánh giá hiệu quả của công tác xét xử là phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không xử oan người vô tội. Muốn vậy, khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Tuy nhiên trên thực tế, không phải khi nào nguyên tắc này cũng được hiểu đúng, đầy đủ và thực hiện triệt để. Trong bài này chúng ta cùng nghiên cứu về vấn đề: “Nội dung của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và giải pháp nhằm nâng cao hiệu qu thực hiện nguyên tắc”.

B.    Giải quyết vấn đề
1.     Những vấn đề chung về nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”

Khái niệm về nguyên tắc “thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”

Điều 130 hiến pháp năm 1992 và Điều 16 Bộ luật quy định khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm không bị ràng buộc bởi kết luận của Viện kiểm sát, không bị chi phối bởi ý kiến của nhau. Thẩm phán, Hội thẩm phải chịu trách nhiệm đối với ý kiến của mình về từng vấn đề của vụ án; Thẩm phán và Hội thẩm độc lập cũng có nghĩa là không một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm; sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử phải gắn liền với việc tuân thủ pháp luật.

Nội dung nguyên tắc “thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”

1.2.1. Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập

1.2.1.1. Độc lập với các yếu tố khách quan

– Độc lập với các chủ thể khác của Tòa án: giữa thẩm phán, hội thẩm và nội bộ ngành tòa án có mối quan hệ ràng buộc nhất định được thể hiện cụ thể ở: Quan hệ giữa thẩm phán và tòa án cấp trên; quan hệ giữa thẩm phán và chánh án tòa án nhân dân tối cao; quan hệ giữa hội thẩm và chánh án tòa án nơi hội thẩm tham gia xét xử. Những mối quan hệ này không đơn thuần là quan hệ về tổ chức hành chính càng không đơn thuần là quan hệ tố tụng. Trong quan hệ hành chính có mối quan hệ tố tụng và trong quan hệ tố tụng có mối quan hệ hành chính  nhất định không có sự tách bạch rõ ràng. Thông qua công tác tổ chức xét xử như họp bàn trước khi xét xử, phân công thẩm phán, hội thẩm xét xử vụ án, chánh án có tác động đến hoạt động xét xử của thẩm phán và hội thẩm. Ngoài ra, việc có quy định “tòa án cấp trên” có thể hủy án “tòa án cấp dưới” cũng ảnh hưởng đến tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm. Chính vì vậy thẩm phán và hội thẩm phải có chính kiến, quan điểm của mình trong việc đánh giá chứng cứ, xác định tội danh, mức hình phạt và giải quyết các vấn đề khác dựa trên quy đinh của pháp luật, đảm bảo xét xử công bằng khách quan.

– Độc lập với sự chỉ đạo của của cấp ủy Đảng: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghiã Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh dạo của Đảng cộng sản. Nhà nước công khai nguyên tắc Đảng lãnh đạo tại Điều 4 Hiến pháp 1992 và được quy định cụ thể trong các nghị quyết của Đảng như: nghị quyết 08/ NQ-TW,..Ngoài ra giữa tổ chức Đảng và Thẩm phán còn có mối quan hệ khác ngoài mối quan hệ giữa Đảng viên và tổ chức Đảng qua thủ tục thẩm phán. Theo quy định hiện hành thì cùng với việc lấy phiếu tín nhiệm của cán bộ công chức trong cơ quan người được đề nghị còn phải lấy ý kiến của cấp ủy Đảng. Chính vì những lý do này mà yêu cầu được đặt ra là Thẩm phán và Hội thẩm phải nhận thức đúng đắn sự lãnh dạo của Đảng đối với hoạt động tư pháp để đảm bảo sự độc lập trong xét xử.

– Độc lập với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án: Hồ sơ vụ án hình sự là tài liệu đầu tiên để Thẩm phán và Hội thẩm tiến hành xem xét, đánh giá việc có hành vi phạm tội hay không, phạm tội gì và được quy định trong hình phạt nào. Việc xét xử của Tòa án dựa trên những thông tin cần thiết, đáng tin cậy đó là chứng cứ vụ án. Bản án, quyết định của Tòa án dựa trên cơ sở phân tích đánh giá thông tin đã được cơ quan điều tra thu thập. Chính vì vậy, các thông tin ban đầu (nhất là kết luận điều tra và cáo trạng truy tố) có ảnh hưởng nhất định đến nhận định của Hội đồng xét xử. Vì vậy, Độc lập với tài liệu trong hồ sơ vụ án là việc Thẩm phán và hội thẩm trên cơ sở đánh giá tính chính xác của các thông tin, kiểm tra lại tính xác thực, đúng đắn của quyết định truy tố, từ đó đưa ra quan điểm chứng minh tội phạm của Hội đồng xét xử, các tình tiết thu thập được phải phù hợp với hiện thực khách quan.

– Độc lập với yêu cầu của người tham gia tố tụng, với dư luận và với cơ quan báo chí: Phán quyết của Tòa án bao giờ cũng làm xuất hiện những nhóm mâu thuẫn về lợi ích, đó là những mâu thuẫn về lợi ích giữa bị cáo và người bị hại, giữa nguyên đơn dân sự và bị đơn dân sự, giữa nhà nước và người phạm tội. Ai cũng có nhu cầu kết quả xét xử đưa lại lợi ích tối ưu cho họ. Sau phán quyết của Tòa án sẽ có rất nhiều bình luận từ quần chúng nhân dân, từ cơ quan báo chí rằng tòa xét xử như vậy đúng hay không, có công bằng hay không, nặng hay nhẹ. Đặc biệt là các vụ án bị cấp trên xử hủy, những vụ án xét xử lưu động và các vụ án lớn được dư luận quan tâm. Những vấn đề đó đều tác động mạnh mẽ đến tâm lý của Thẩm phán và Hội thẩm khi thực hiện nhiệm vụ xét xử. Vì vậy, mới đặt ra yêu cầu Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập với yêu cầu của người tham gia tố tụng, với báo chí, với dư luận nghĩa là việc xét xử chỉ dựa trên những chứng cứ, những quy định của pháp luật, không phụ thuộc vào yêu cầu khách của những người nói trên.

1.2.1.2. Độc lập với các yếu tố chủ quan (giữa các thành viên trong hội đồng xét xử)

Cơ sở của việc độc lập xét xử giữa thẩm phán và hội thẩm được ghi nhận thành một trong những nguyên tắc của tố tụng đó là: khoản 1 Điều 22 Bộ luật tố tụng hình sự: “Chỉ Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền nghị án. Các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề một. Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án”.

Quy định này đã loại trừ việc thẩm phán lạm quyền, tác động đến hoạt động xét xử của Hội thẩm. Đồng thời, điều này cũng ngăn cấm thái độ ỷ lại vào Thẩm phán của Hội thẩm mà cũng buộc Hội thẩm phải tích cực chủ động và có trách nhiệm trong hoạt động chứng minh tội phạm.

1.2.2. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử chỉ tuân theo pháp luật

    Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập không có nghĩa là xét xử tùy tiện mà việc xét xử phải tuân theo quy định của pháp luật và điều này được thể hiện ở những khía cạnh sau:

– Tuân theo pháp luật hình sự ( bao gồm cả luật thực định và khoa học về luật hình sự). Vì muốn áp dụng đúng các quy định của Bộ luật hình sự buộc Thẩm phán và Hội thẩm phải có kiến thức về việc định tội danh và quyết định hình phạt,…

– Tuân theo pháp luật tố tụng hình sự: Có thể chia hoạt động xét xử của thẩm phán và Hội thẩm thành 2 giai đoạn, thứ nhất là từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến trước ngày mở phiên tòa và thứ hai là tại phiên tòa:

  • · Ở giai đoạn thứ nhất là giai đoạn mà Thẩm phán và Hội thẩm nghiên cứu hồ sơ để xem xét các tài liệu có trong vụ án, từ đó xây dựng kế hoạch xét hỏi và những tình huống xảy ra tại phiên tòa để có kế hoạch ứng phó thích hợp và những công việc cần thiết khác cho phiên tòa.
  • · Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cần nắm chắc các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự từ thủ tục bắt đầu phiên tòa cho đến kết thúc phiên tòa, trong đó phần xét hỏi, tranh luận và nghị án là quan trọng nhất.

– Tuân theo các văn bản pháp luật khác có liên quan như: Pháp luật dân sự và các văn bản luật chuyên ngành khác…

1.3. Mối quan hệ giữa tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của thẩm phán và hội thẩm.

– Độc lập là biểu hiện của tuân theo pháp luật: Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc là một phần nội dung của nguyên tắc. Thẩm phán và hội thẩm độc lập với nhau và độc lập với các yếu tố khác. Nếu Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập, không chịu bất kì sự tác động nào thì phán quyết của Hội đồng xét xử mới có tính khách quan, vô tư, quyết định của Hội đồng xét xử mới đảm bảo đúng pháp luật. Vì thế độc lập là điều kiện cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm tuân theo pháp luật.

– Tuân theo pháp luật là cơ sở để thể hiện tính độc lập trong xét xử. Xét ở khía cạnh thuần túy của tính độc lập, để có thể tự mình đưa ra phán quyết, Thẩm phán và hội thẩm phải có kiến thức pháp luật và phải chấp hành quy định của pháp luật. Khi nắm chắc kiến thức pháp luật, Thẩm phán và Hội thẩm có điều kiện để thể hiện sự độc lập trong phán quyết của mình. Xét ở khía cạnh khác thì tuân theo pháp luật là đã loại trừ các tác động khác đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm, bởi vậy họ mới có được sự độc lập.

– Độc lập trong việc thống nhất với chỉ tuân theo pháp luật: Độc lập nhưng phải dựa trên những quy định của pháp luật. Mọi kết luận của bản án, quyết định của Hội đồng xét xử phải phù hợp các tình tiết khách quan của vụ án. Bản án phải xác định đúng người, đúng tội và đúng với các thiệt hại do hành vi phạm tội đã gây ra. Mỗi nhận định của bản án đều phải dựa trên những chứng cứ và tình tiết xác thực được thẩm tra tại phiên tòa có lập luận chặt chẽ, không kết luận dựa trân ý nghĩ chủ quan, cảm tính cá nhân của mỗi thành viên Hội đỗng xét xử. Yếu tố độc lập và chỉ tuân theo pháp luật không thể tách rời nhau.

  Từ những phân tích trên có thể thấy rằng yếu tố độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có mối quan hệ biện chứng với nhau, độc lập trong sự thống nhất với việc tuân theo pháp luật.

  1.4. Ý nghĩa của nguyên tắc

  Nguyên tắc Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án. Có thể khái quát ý nghĩa của nguyên tắc thành 3 nhóm như sau:

-Ý nghĩa chính trị xã hội: Nguyên tắc xác định vai trò, vị trí cơ quan Tòa án trong hệ thống các cơ quan nhà nước nói chung và các cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng. Chỉ có tòa án mới có quyền xét xử và khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Không một cá nhân, cơ quan nào được xen vào hoạt động xét xử của Tòa án (cụ thể là Thẩm phán và Hội thẩm) phải đảm bảo sự độc lập trên cơ sở chỉ tuân theo pháp luật không tuân theo bất cứ sự chỉ đạo nào khác ngoài pháp luật, trái pháp luật. Tư pháp độc lập là một trong những yếu tố để đảm bảo công bằng xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc gián tiếp thể hiện bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước do dân làm chủ, nhân dân tham gia giám sát các hoạt động của nhà nước, trong đó có hoạt động xét xử.

-Ý nghĩa pháp lý: Nguyên tắc là cơ sở pháp lý để Thẩm phán và Hội thẩm tiến hành hoạt động xét xử khách quan, đúng pháp luật. Đây cũng là cơ sở đảm bảo Hiến pháp và pháp luật. Nói cách khác, pháp luật chỉ có ý nghĩa và có tác dụng khi nguyên tắc “độc lập xét cử” được tuân thủ một cách triệt để. Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử vừa là quyền, đồng thời cũng là nghĩa vụ của Thẩm phán và Hội thẩm.

-Ý nghĩa đối với hoạt động thực tiễn: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật bảo đảm việc xét xử khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nguyên tắc này loại trừ các sự tác động không cần thiết, thậm chí tiêu cực của cơ quan, tổ chức khác đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm đảm bảo sự bình đẳng, độc lập giữa các thành viên của Hội đồng xét xử.

  1. 2.     Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”

2.1. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”

Trên thực tế, nguyên tắc này đã được các chủ thể của hoạt xét xử tuân thủ và ngày càng phát huy ý nghĩa tích cực của nguyên tắc, đảm bảo hoạt động xét xử của Tòa án được khách quan và đúng pháp luật hạn chế tối đa án oan sai và thiếu chính xác. Tuy nhiên trên thực tế vẫn có biểu hiện của việc chưa tuân thủ nguyên tắc ảnh hưởng đến chất lượng xét xử của Tòa án, xúc phạm đến quyền và lợi ích của công dân, gây dư luận xấu và bất bình trong quần chúng nhân dân và nhưng hành vi đó có biểu hiện khá đa dạng:

   – Thứ nhất, hoạt động xét xử chủ yếu là hoạt động của Thẩm phán, Hội thẩm chưa phát huy hết quyền năng được giao khi thực hiện nhiệm vụ xét xử. Thông thường đối với những vụ án không phức tạp, Hội thẩm chỉ đến nghiên cứu hồ sơ trước sát ngày mở phiên tòa. Khi ấy Hội thẩm chỉ nghiên cứu bản cáo trạng và một số lời khai của bị cáo, người bị hại, không nghiên cứu những tài liệu phản ánh việc thu thập chứng cứ khác như biên bản khám nghiệm hiện trường, các quyết định về khởi tố, áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Thậm chí có những Hội thẩm chỉ đến nghiên cứu cáo trạng hoặc không nghiên cứu hồ sơ nhưng vẫn tiến hành hoạt động xét xử tại phiên tòa. Những trường hợp này Hội thẩm sẽ không bị lệ thuộc vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhưng lúng túng không triển khai được mô hình để điều tra. Vì thế Thẩm phán lại phải tóm tắt nội dung vụ án nên Thẩm phán hỏi hết các vấn đề, Hội thẩm không có vấn đề gì để hỏi. Sự quá chủ động của Thẩm phán làm cho Hội thẩm ở vào tình trạng lệ thuộc, thiếu chủ động trong quá trình chứng minh tội phạm. Vì thế khi đưa ra phán quyết, Hội thẩm cũng chỉ là người quyết định theo ý chí của Thẩm phán. Như vậy tính độc lập xét xử không được đảm bảo.

    Thứ hai, Thẩm phán và Hội thẩm quá lệ thuộc vào kết quả điều tra, vào những thông tin, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, không lắng nghe ý kiến của bị cáo tại phiên tòa, phiên tòa là thời điểm để “hợp thức hóa” các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nhiều vụ án Hội đồng xét xử tin vào kết quả điều tra có trong hồ sơ vụ án nên có thành kiến bị cáo có tội, từ đó đặt ra những câu hỏi mang tính áp đặt buộc bị cáo khai đúng với lời khai trước đó. Hoặc là Hội đồng xét xử đặt những câu hỏi mang tính mớm cung như bị cáo đã làm những việc này, việc kia đúng không? Khi có mâu thuẫn trong lời khai của những người tham gia tố tụng, Hội đồng thay vì phải vạch ra sự bất hợp lý trong lời khai của họ thì lại lấy lời khai của họ làm chuẩn mực để hướng những người này khai phù hợp với chuẩn mực đó. Có nhiều trường hợp tại phiên tòa bị cáo khai bị cơ quan điều tra ép cung, mớm cung, dùng nhục hình nên phải khai như thế, Hội đồng xét xử hỏi bị cáo có chứng cứ gì để chứng minh bị ép cung hay bị dùng nhục hình không và đương nhiên bị cáo không thể chứng minh được việc cơ quan điều tra dùng nhục hình với họ. Trong trường hợp này Hội đồng xét xử nên tạo điều kiện để họ thực hiện quyền tự bào chữa, quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp rằng việc khai trước cơ quan điều tra là không đúng, là mâu thuẫn với hiện thực khách quan, không đúng và mâu thuẫn như thế nào?

   –  Thứ ba, thực tiễn cho thấy hoạt động trao đổi, họp bàn án giữa 3 ngành Công an, Viện kiểm sát, Tòa án đã phát huy tính tích cực trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả hơn. Tuy nhiên kết quả của cuộc họp 3 ngành cũng tác động rất lớn đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm . Có những cuộc họp liên ngành xác định luôn đường lối xử lý như mức hình phạt cụ thể, biện pháp chấp hành hình phạt. Có nhiều trường hợp diễn biến tại phiên tòa có nhiều điểm khác nhau nhưng do quá tin vào cuộc họp 3 ngành nên Hội đồng xét xử cố gắng chứng minh theo kết luận ban đầu và dù thế nào thì bị cáo cũng có tội.

Hoạt động thỉnh thị án cấp trên họp bàn án nhằm mục đích áp dụng thống nhất pháp luật. Tuy nhiên hiện nay có hiện tượng lạm dụng việc “thỉnh thị” án và họp bàn án ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm. Nhiều trường hợp hành vi xảy ra trên thực tế gần giống với hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm gây khó khăn cho việc xác định tội danh, một số trường hợp pháp luật quy định chưa rõ ràng, gây khó khăn cho việc áp dụng nên nhiều Thẩm phán và Hội thẩm xem ý kiến của Tòa án cấp trên là ý chí nên tuân theo. Nhiều vụ án đã xin đường lối, án sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị, cấp phúc thẩm hủy án vì kết luận của tòa án cấp dưới là không có cơ sở pháp lý. Thẩm phán vẫn khẳng định là đã xét xử theo chỉ đạo mà không nhận thức được ý kiến cấp trên trong trường hợp này chỉ là để tham khảo. Việc thỉnh thị án tạo nên tâm lý cấp dưới ỷ lại cấp trên, không có sự độc lập của mình, vi phạm nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.

  Thứ tư, có sự tác động từ các yếu tố bên ngoài đến hoạt động xét xử  của Thẩm phán và Hội thẩm.

+ Sự tác động của Công an; Thông qua hoạt động họp bàn án, nhiều công an đã can thiệp cụ thể vào việc xét xử. Việc can thiệp của công an vào hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm đều vi phạm nguyên tắc. Công an là người quản lý đơn vị, chỉ đạo của công an Thẩm phán không thể không nghe theo. Có rất nhiều trường hợp công an lạm dụng sự chỉ đạo để tác động trái pháp luật vào hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm.

+ Sự tác động của cấp ủy Đảng: Đảng cộng sản chỉ lãnh đạo về mặt đường lối chung chứ không chuyên sâu vào nghiệp vụ chuyên môn  từng ngành trong công tác xét xử của tòa án. Thực trạng hiện nay vẫn còn một số ý kiến cho rằng Đảng lãnh đạo là lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện, lãnh đạo luôn cả hoạt động xét xử của tòa án. Do đó một số cá nhân công tác ở các cơ quan Đảng địa phương không nhận thức đúng đắn vấn đề này. Tình trạng cấp ủy Đảng địa phương tham gia quá sâu vào công tác xét xử của tòa án vẫn phổ biến, nhất là xâm phạm tính độc lập xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm dẫn đến cho ra bản án hoặc quyết định sai, không đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, làm giảm lòng tin của nhân dân vào cơ quan xét xử, vào Đảng và nhà nước.

+ Sự tác động của các cá nhân, tổ chức khác: Trước hết là sự tác động của những người tham gia tố tụng. Họ có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các cá nhân có chức vụ, quyền hạn với mục đích là hướng hoạt động xét xử đảm bảo lợi ích cho họ. Lợi ích này đa phần là không chính đáng như giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo, tăng hoặc giảm mức bồi thường thiệt hại thiếu căn cứ pháp luật. Cách thức tác động thường là dùng tiền hoặc vật có giá trị để hối lộ cho những người tham gia xét xử. Có những trường hợp đe dọa, ép buộc Hội đồng xét xử phải xử theo lợi ích của họ nếu không muốn nhận lấy những hậu quả xấu từ phía bản thân hoặc gia đình. Những người tham gia tố tụng cũng có thể thông qua các cá nhân có chức vụ, quyền hạn mà họ quen biết để tác động như Viện trưởng Viện kiểm sát  cùng cấp hoặc cấp trên, thủ trưởng cơ quan điều tra…

+ Sự tác động của cơ quan báo chí, dư luận: Có rất nhiều vụ án đã được báo chí đề cập đến và trong thời đại ngày nay- thời đại bùng nổ, công khai thông tin, hoạt động của tòa án cũng không nằm ngoài sự quan tâm của báo chí. Những vụ án tòa xét xử nhẹ hoặc xét xử chưa chính xác làm lợi cho một số người nhất định được báo chí quan tâm. Vấn đề là khi có kháng cáo, kháng nghị, bị hủy thì cấp sơ thẩm xét xử lại như thế nào? Có nhiều vụ án cấp sơ thẩm xét xử độc lập theo quan điểm của mình nhưng có những vụ án lại xét xử theo hướng” làm dịu” sự phản ứng của báo chí. Báo chí cũng là quan điểm tranh luận của cá nhân, cũng có thể là quan điểm của tập thể, các quan điểm đó có thể đúng, có thể chưa chính xác. Nếu Thẩm phán và Hội thẩm xét xử không theo pháp luật và bị tác động bởi dư luận thì rõ ràng vi phạm nguyên tắc “ Thẩm phán và  Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.

2.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”

Trong những năm gần đây Nhà nước rất quan tâm đến hoạt động tư pháp và có nhiều thành tựu đáng kể, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân mà nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” chưa được thực hiện một cách triệt để, ảnh hưởng đến chất lượng xét xử. Do vậy, để nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc chúng tôi đưa ra một số giải pháp sau:

Thứ nhất, về hoàn thiện pháp luật: Cần hoàn thiện pháp luật nói chung và các quy định có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật một cách cụ thể.

+ Bộ luật hình sự cần xây dựng mức phạt ở các khung không cách nhau quá xa, bỏ khoản 2 điều 46 và bổ sung một số tình tiết ở khoản 1 điều 46. Những quy định bổ sung này cần được đúc kết từ thực tiễn  áp dụng, phải có tính đặc trưng điển hình.

+ Cần có những văn bản hướng dẫn kịp thời để có cách áp dụng thống nhất trong xét xử.

+ Cần có một cơ chế pháp lý hoàn chỉnh, rõ ràng và thống nhất để tạo cơ sở cho thẩm phán và hội thẩm khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật.

+ Xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, không chồng chéo, mâu thuẫn với nhau; các văn bản hướng dẫn thi hành và giải thích luật phải kịp thời. Có như vậy mới tạo điều kiện cho Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân khi xét xử có cơ sở pháp lý vững chắc và chỉ tuân theo pháp luật.

–   Thứ hai, các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, giữ gìn đạo đức, lương tâm nghề nghiệp. Các Thẩm phán phải được đào tạo chuẩn (có trình độ tốt nghiệp đại học và trên đại học chuyên ngành luật) và thường xuyên được cập nhật những kiến thức mới về tin học, ngoại ngữ, pháp luật quốc tế. Đồng thời, có tinh thần dũng cảm, dám đấu tranh cho sự công bằng, bảo vệ lẽ phải. Chỉ khi Thẩm phán có một trình độ chuyên môn cao với cái tâm trong sáng, tôn trọng sự công bằng, thì họ mới không bị chi phối bởi những suy nghĩ lệch lạc hoặc những tác động bên ngoài mang tính chất vụ lợi cá nhân. Khi đó, Thẩm phán sẽ có niềm tin nội tâm vững chắc để xét xử đúng pháp luật. Cùng với Thẩm phán, các Hội thẩm nhân dân cũng phải được bồi dưỡng tập huấn nâng cao kiến thức pháp luật, kỹ năng xét xử để đủ năng lực khi xét xử.

Đổi mới quy trình bổ nhiệm Thẩm phán theo hướng rút ngắn thủ tục, giảm sự can thiệp của các cơ quan chính quyền địa phương. Nhiệm kỳ năm năm đối với Thẩm phán các cấp hiện nay là quá ngắn. Vì vậy, để Thẩm phán yên tâm công tác, tận dụng được tối đa kinh nghiệm xét xử và dám thể hiện bản lĩnh nghề nghiệp, cần kéo dài nhiệm kỳ của Thẩm phán. Mặt khác, để thực hiện bổ nhiệm Thẩm phán có chất lượng, phải thực hiện thường xuyên quy trình luân chuyển cán bộ, nguồn bổ nhiệm Thẩm phán cấp trên nên là Thẩm phán cấp dưới trong một thời hạn nhất định, nguồn bổ nhiệm Chánh án, Phó Chánh án Tòa án cấp trên nên chú trọng lấy từ các Chánh án, Phó Chánh án Tòa án cấp dưới đã làm tốt công tác quản lý, xét xử.

Cần hoàn thiện các quy định để nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán như quy định về kỷ luật, quy định về bãi miễn khi Thẩm phán vi phạm phẩm chất đạo đức hoặc năng lực xét xử yếu kém. Bởi vì, pháp luật quy định người Thẩm phán độc lập trong xét xử thì họ cũng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những phán quyết của mình do vậy yếu tố đạo đức cũng là một trong những yếu tố rất quan trọng khi bổ nhiệm thẩm phán và hội thẩm.

Thứ ba,  xây dựng và củng cố các cơ quan, tổ chức, bổ trợ tư pháp vững mạnh. Thực tiễn xét xử cho thấy, hoạt động của các cơ quan bổ trợ tư pháp như luật sư, công chứng, giám định, hộ tịch… tuy không trực tiếp quyết định các bản án, nhưng sự khách quan, kịp thời, chính xác của các hoạt động bổ trợ tư pháp sẽ góp phần bảo đảm chất lượng xét xử của Tòa án. Nếu hoạt động bổ trợ tư pháp kém hiệu quả, sẽ dẫn đến sự sai lệch trong kết quả điều tra, truy tố và khi xét xử, Thẩm phán rất dễ sai lầm, đưa ra phán quyết không đúng pháp luật. Vì vậy, trong tiến trình cải cách tư pháp, phải hoàn thiện pháp luật về luật sư, công chứng, giám định, hộ tịch theo hướng công khai, minh bạch, đơn giản và thuận tiện cho người dân.

–   Thứ tư, tăng cường vai trò giám sát của các Đoàn đại biểu Quốc hội, của Hội đồng nhân dân đối với hoạt động xét xử của Tòa án. Đồng thời, nâng cao chất lượng hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, cung cấp thông tin về hoạt động xét xử.

–   Thứ năm,  tăng cường cơ sở vật chất, chế độ chính sách đối với Thẩm phán, cán bộ Tòa án. Nhà nước cần ưu tiên đầu tư xây dựng trụ sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc cho các Tòa án; cần có chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với Thẩm phán, cán bộ Tòa án để họ yên tâm công tác và tăng khả năng tự vệ phòng, chống tiêu cực trong hoạt động xét xử. Mặt khác, Nhà nước cần quy định chế độ bảo đảm an ninh đối cơ quan Tòa án, Thẩm phán và gia đình họ trong trường hợp thi hành công vụ.

Thứ sáu, về tổ chức hoạt động của Tòa án: thì ngành Tòa án nên bỏ hình thức họp bàn án trong nội bộ cơ quan cũng như họp ba ngành, bỏ hình thức thỉnh thị án cấp trên, duyệt án. Hội thẩm và Thấm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình vậy nên thay đối cách đánh giá chất lượng xét xử thông qua đánh giá số lượng án bị hủy bởi lẽ nhiều vụ án các căn cứ đầy đủ tòa sơ thẩm và tòa phúc thẩm chỉ khác nhau về quan điểm đánh giá chứng cứ…

Thứ bảy, các kiến nghị khác:  Nâng cao nhận thức của các cá nhân khác về nguyên tắc “thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” vì nguyên tắc này đóng vai trò quan trọng trong hoạt động xét xử; Nhà nước cần có những chính sách để khuyến khích đời sống để đảm bảo hoạt động của những người có trách nhiệm có hiệu quả.

C. Kết  bài

Trong hoạt động tố tụng hình sự có nhiều nguyên tắc được đưa ra là quy chuẩn cho việc thực hiện và giải quyết những vụ án. Song bên cạnh những thành tựu đạt được thì còn rất nhiều vấn đề đặt ra trên thực tế mà các cơ quan có thẩm quyền cần đưa ra những giải pháp để giải quyết những vấn đề đó. Trong nội dung hạn hẹp của đề bài nhóm đã nêu: “nội dung của nguyên tắc “Thẩm phán  và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”  và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc”

  1. D.       DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

–               Giáo trình

  1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. CAND, Hà Nội, 2007, 2008.
  2. Khoa Luật- Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2001.

–               Sách

  1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Những nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. CAND, Hà Nội, 2004.
  2. Võ Khánh Vinh (chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2004.

–               Văn bản pháp luật

Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003.

–               Website

1. http://vietnamese-law-consultancy.com

2. http://luathinhsu.wordpress.com

3. http://www.tuvanluat.com.vn

  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: