Giáo trình Luật Hình sự 1 – Chương 3


Chương 3. Tội phạm

3.1. Khái niệm và đặc điểm của tội phạm

3.2. Phân loại tội phạm

3.3. Phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác

3.4. Vấn đề nguồn gốc và bản chất giai cấp của tội phạm

CHƯƠNG 3. TỘI PHẠM

 

3.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TỘI PHẠM 3.1.1. Khái niệm tội phạm

 

Khái niệm tội phạm được quy định tại Khoản 1, Điều 8 BLHS như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc xâm phạm chế độ chính trị (thay chế độ XHCN), chế độ kinh tế nền văn hoá quốc phòng, an ninh trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN.

 

Định nghĩa tội phạm về hình thức khác định nghĩa tội phạm về nội dung là nó chỉ rõ ra các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ là khách thể của tội phạm. Từ đó thấy được bản chất giai cấp của tội phạm (phục vụ, bảo vệ lợi ích giai cấp nào? Hành vi phạm tội gây nguy hiểm cho lợi ích của giai cấp nào?).

Như vậy, khái niệm về tội phạm nêu trong Khoản1, Điều 8 của BLHS là khái niệm tội phạm về nội dung. Bởi vì, trong định nghĩa này nó đã xác định rõ phạm vi các quan hệ xã hội được luật hình sự Việt Nam điều chỉnh và bảo vệ.

 

3.1.2. Các đặc điểm của tội phạm

 

Về bản chất pháp lý thì tội phạm là một trong 4 loại vi phạm pháp luật, trong đó tội phạm là vi phạm pháp luật hình sự nên nó phải chứa đựng đầy đủ các đặc điểm của vi phạm pháp luật nói chung. Song bên cạnh đó nó còn mang các đặc điểm có tính đặc thù riêng của nó để dựa vào đó có thể phân biệt được tội phạm với các vi phạm pháp luật khác. Các đặc điểm đó đã được thể hiện trong khái niệm tội phạm, đó là:

 

a. Tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội

 

Bất kỳ một hành vi vi phạm nào cũng đều có tính nguy hiểm cho xã hội, nhưng đối với tội phạm thì tính nguy hiểm cho xã hội luôn ở mức độ cao hơn so với các loại vi phạm pháp luật khác.

Đây là đặc điểm thể hiện dấu hiệu về nội dung của tội phạm nó quyết định các dấu hiệu khác như tính được quy định trong BLHS của tội phạm. Chính vì vậy, việc xác định dấu hiệu này có ý nghĩa như sau:

Là căn cứ quan trọng để phân biệt giữa các tội phạm và các vi phạm pháp luật khác.

 

Là dấu hiệu quan trọng nhất quyết định các dấu hiệu khác của tội phạm.

Là căn cứ quan trọng để quyết định hình phạt.

Để xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm chúng ta phải cân nhắc, xem xét, đánh giá một cách toàn diện các yếu tố sau:

Tính chất của quan hệ xã hội bị xâm phạm.

Phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện phạm tội.

Mức độ thiệt hại gây ra hoặc đe doạ gây ra.

Hình thức và mức độ lỗi.

Động cơ và mục đích phạm tội.

Nhân thân người phạm tội.

Hoàn cảnh chính trị xa hội lúc và nơi hành vi phạm tội xảy ra.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

 

b. Tính có lỗi

 

Một người thực hiện hành vi phạm tội luôn bị đe doạ phải áp dụng hình phạt – là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất. Mục đích của hình phạt theo luật hình sự Việt Nam là không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà chủ yếu nhằm cải tạo, giáo dục họ. Mục đích này chỉ đạt được nếu hình phạt được áp dụng đối với người có lỗi khi thực hiện hành vi phạm tội – tức là khi thực hiện hành vi phạm tội đó họ có đầy đủ điều kiện và khả năng để lựa chọn một biện pháp xử sự khác không gây thiệt hại cho xã hội nhưng họ đã thực hiện hành vi bị luật hình sự cấm gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội.

 

c. Tính trái pháp luật hình sự (tính được quy định trong BLHS)

 

Bất kỳ một hành vi nào bị coi là tội phạm cũng đều được quy định trong BLHS. Đặc điểm này đã được pháp điển hoá tại Điều 2 BLHS “chỉ người nào phạm một tội đã được bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Như vậy, một người thực hiện hành vi dù nguy hiểm cho xã hội đến đâu nhưng hành vi đó chưa được quy định trong BLHS thì không bị coi là tội phạm.

 

Đặc điểm này có ý nghĩa về phương diện thực tiễn là tránh việc xử lý tuỳ tiện của người áp dụng pháp luật. Về phương diện lý luận nó giúp cho cơ quan lập pháp kịp thời bổ sung sửa đổi BLHS theo sát sự thay đổi của tình hình kinh tế – xã hội để công tác đấu tranh phòng chống tội phạm đạt hiệu quả.

 

d. Tính phải chịu hình phạt

 

Đặc điểm này không được nêu trong khái niệm tội phạm mà nó là một dấu hiệu độc lập có tính quy kết kèm theo của tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự.

 

Tính phải chịu hình phạt của tội phạm có nghĩa là bất cứ một hành vi phạm tội nào cũng bị đe doạ phải áp dụng một hình phạt đã được quy định trong BLHS.

Từ việc phân tích các đặc điểm của tội phạm có thể đưa ra khái niệm tội phạm theo các đặc điểm của nó: tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, được quy định trong bộ luật hình sự và phải chịu hình phạt.

 

3.1.3. Ý nghĩa của khái niệm tội phạm

 

Khái niệm tội phạm là khái niệm cơ bản nhất trong luật hình sự Việt Nam là cơ sở thống nhất cho việc xác định những tội phạm cụ thể và các chế định khác của luật hình sự. Các khái niệm khác tuy độc lập nhưng cũng chỉ là những khái niệm có tính chất cụ thể hoá và hoàn toàn phụ thuộc vào khái niệm tội phạm.

Khái niệm tội phạm là cơ sở thống nhất cho việc nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự một cách đúng đắn.

 

3.2. PHÂN LOẠI TỘI PHẠM 3.2.1. Khái niệm phân loại tội phạm

Cơ sở phân loại tội phạm theo quy định của BLHS là dựa vào 2 tiêu chí:

Thứ nhất: Căn cứ vào nội dung chính trị xã hội- đó chính là tính chất và mức độ nguyhiểm cho xã hội của tội phạm.

Thứ hai: Căn cứ vào hậu quả pháp lý – biểu hiện của nó là mức hình phạt.

Việc phân loại tội phạm càng thành nhiều nhóm khác nhau căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm càng giúp cho việc cá thể hoá hình phạt được chính xác.

Dựa vào 2 tiêu chí trên, tại K2, Điều 8 BLHS chia tội phạm thành 4 loại:

Tội phạm ít nghiêm trọng là loại tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy đến 3 năm tù.

Tội phạm nghiêm trọng là loại tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy đến 7 năm tù.

Tội phạm rất nghiêm trọng là loại tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy đến 15 năm tù.

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là loại tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 15 năm tù đến tù chung thân hoặc tử hình

 

Theo khái niệm của mỗi loại tội phạm cho thấy, cơ sở để xác định chúng thuộc loại tội phạm nào thực tế chỉ cần dựa vào mức cao nhất của từng khung hình phạt của mỗi điều luật phần các tội phạm cụ thể của mỗi tội danh mà không thể xác định được mức độ gây nguy hại cho xã hội của mỗi loại tội phạm như thế nào là chưa lớn, lớn, rất lớn và đặc biệt lớn. Do đó có thể kết luận:

       Đối với một khung hình phạt của một tội phạm thì hoặc chỉ là tội ít nghiêm trọng, hoặc tội nghiêm trọng, hoặc tội rất nghiêm trọng, hoặc là tội đặc biệt nghiêm trọng.

 

Đối với một tội phạm nếu chỉ có một khung hình phạt thì loại tội đó chỉ có thể là 1 trong 4 loại tội. Nếu có từ hai khung hình phạt trở lên thì tội đó có thể vừa là tội ít nghiêm trọng, vừa là tội nghiêm trọng vừa là tội rất nghiêm trọng và có thể vừa là tội đặc biệt nghiêm trọng (ví

dụ Tội trộm cắp tài sản, Điều 138 BLHS).

3.2.2. Ý nghĩa của việc phân loại tội phạm

 

Việc phân loại tội phạm có ý nghĩa trong việc hoàn thiện và áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự như:

Chế định tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Nguyên tắc xử lý người phạm tội.

 

Chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều kiện áp dụng một số loại hình phạt hoặc biện pháp tư pháp. Chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm, xoá án tích.

 

Chế định tạm giam, thời hạn tạm giam.

Việc áp dụng các quy phạm và các chế định trên đều phải xuất phát từ việc phân loại tội phạm. Ví dụ: Điều 12 BLHS quy định “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng”.

 

3.3. PHÂN BIỆT TỘI PHẠM VỚI CÁC VI PHẠM PHÁP LUẬT KHÁC 3.3.1. Sự khác nhau giữa tội phạm và vi phạm pháp luật khác

    Tội phạm Vi phạm pháp luật khác  
    (VPHC, VPDS, VPKL)  
         
1.Mức  độ  nguy  hiểm  cho  xã   – Đáng kể   – Không đáng kể.  
hội          
2. Hậu quả pháp lý.   – TNHS là biện pháp – TNHC, TNDS,TNKL là các biện pháp  
    cưỡng   chế nghiêm cưỡng chế ít nghiêm khắc hơn.  
    khắc nhất      
3. Hình thức pháp lý.   – Chỉ được quy định – Quy định trong các văn bản quy phạm  
    trong BLHS   pháp luật khác.  

 

Các tiêu chuẩn để phân biệt giữa tội phạm và các vi phạm pháp luật khác

 

a. Đối với nhà làm luật căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm để phân biệt

 

giữa tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Đó là

Dựa vào sự đánh giá tính chất của các quan hệ xã hội bị xâm hại. Dựa vào sự đánh giá hình thức mức độ lỗi.

Dựa vào sự đánh giá mức độ thiệt hại gây ra.

 

b. Đối với người giải thích pháp luật căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi để phân biệt sự khác nhau giữa tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Cụ thể:

 

Đánh giá mức độ thiệt hại gây ra.

Đánh giá phương pháp thủ đoạn, động cơ phạm tội. Đánh giá nhân thân người phạm tội.

 

c. Đối với người áp dụng pháp luật dựa vào tính được quy định trong bộ luật hình sự để phân biệt tội phạm với vi phạm pháp luật khác.

 

3.4. VẤN ĐỀ NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT GIAI CẤP CỦA TỘI PHẠM

 

Tội phạm chỉ tồn tại trong chế độ xã hội có giai cấp. Các nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Nhà nước và pháp luật cũng là những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của tội phạm.

Tính giai cấp của tội phạm được thể hiện ở 2 phương diện:

       Một hành vi nào bị coi là tội phạm hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội.

       Bất kỳ một tội phạm nào cũng đều xâm hại đến các quan hệ xã hội được giai cấp thống trị bảo vệ vì lợi ích của họ.

  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: