Bài tập nhóm 2 Luật Thương mại 2 – Tranh chấp thương mại


 

I/ Khái quát về tranh chấp thương mại và các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại

1.     Khái niệm về tranh chấp thương mại

Tranh chấp thương mại hiểu theo nghĩa khái quát nhất là sự bất đồng chính kiến, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia hoạt động thương mại. Tranh chấp thương mại là loại hình tranh chấp phổ biến nhất, thường xuyên nhất phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau trong lĩnh vực hoạt động thương mại. Tranh chấp thương mại có một số đặc điểm là:

Thứ nhất, chủ thể chủ yếu của tranh chấp thương mại là các thương nhân. Quan hệ thương mại có thể được thiết lập giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các bên chủ thể không phải là thương nhân. Ngoài thương nhân, trong một số trường hợp nhất định, các cá nhân, tổ chức khác cũng có thể là chủ thể của tranh chấp thương mại.

Thứ hai, căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật.

Thứ ba, nội dung của tranh chấp thương mại là những xung đột về quyền và nghĩa vụ, lợi ích của các bên trong hoạt động thương mại.

Tóm lại, tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh trong đời sống kinh tế xã hội, vì vậy nó hội tụ đầy đủ đặc điểm của một tranh chấp nói chung. Tuy nhiên, tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh doanh khi thực hiện hoạt động thương mại, nên nó có những đặc điểm đặc thù nhất định đòi hỏi phải có phương thức giải quyết tranh chấp nhanh gọn, hiệu quả, đáp ứng được như cầu của các chủ thể kinh doanh.

2.     Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại

Giải quyết tranh chấp thương mại là quá trình các chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lựa chọn các cách thức, biện pháp phù hợp để giải tỏa mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các bên, tạo lập lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được. Hiện nay pháp luật nước ta thừa nhận có bốn hình thức giải quyết tranh chấp thương mại được quy định tại điều 317 Luật thương mại 2005: “ Các hình thức giải quyết tranh chấp:

  1. Thương lượng giữa các bên
  2. Hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải
  3. Giải quyết bằng trọng tài hoặc tòa án.”

II/ Phân tích các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại.

1.     Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng

1.1 Nội dung

a)    Khái niệm

Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kì bên thứ ba nào. Trong thực tiễn, hầu hết các trường hợp có tranh chấp phát sinh thì các bên thường tự nguyện và nhanh chóng liên hệ, gặp gỡ nhau để thương lượng, tìm cách tháo gỡ bất đồng, với mục đích chung là giữ mối quan hệ kinh doanh tốt đẹp và lâu dài giữa họ. Có thể coi đây là hình thức thương lượng để đạt được sự thỏa thuận chung về bất đồng phát sinh, vừa là một hình thức giải quyết tranh chấp.

b)    Bản chất, đặc điểm

Đặc điểm cơ bản của thương lượng là các bên cùng nhau trình bày, phát biểu quan điểm, chính kiến, bàn bạc, tìm các biện pháp thích hợp và đi đến thống nhất thỏa thuận để tự giải quyết các bất đồng.[1]

Bản chất của phương thức thương lượng trong giải quyết tranh chấp thương mại được thể hiện qua các đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất là phương thức giải quyết tranh chấp này được thực hiện bởi cơ chế tự giải quyết thông qua việc các bên tranh chấp gặp nhau bàn bạc, thỏa thuận để tự giải quyết những bất đồng phát sinh mà không cần có sự hiện diện của bên thứ ba để trợ giúp hay phán quyết.

Thứ hai là quá trình thương lượng giữa các bên cũng không chịu sự ràng buộc của bất kì nguyên tắc pháp lí hay những quy định mang tính khuôn mẫu nào của pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp. Pháp luật của Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại mà không có bất kì quy định nào chi phối đến cơ chế giải quyết trạnh chấp thương mại bằng thương lượng.

Thứ ba là việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của mỗi bên tranh chấp mà không có bất kì cơ chế pháp lí nào đảm bảo việc thực thi đối với thỏa thuận của các bên trong quá trình thương lượng.

c)     Các hình thức

Quá trình thương lượng để giải quyết tranh chấp thương mại có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức: thương lượng trực tiếp, thương lượng gián tiếp và kết hợp thương lượng trực tiếp với thương lượng gián tiếp. Thương lượng trực tiếp là cách thức mà các bên tranh chấp trực tiếp gặp nhau bàn bạc, trao đổi và đề xuất ý kiến của mỗi bên nhằm tìm kiếm giải pháp loại trừ tranh chấp. Thương lượng gián tiếp là cách thức các bên tranh chấp gửi cho nhau tài liệu giao dịch thể hiện quan điểm và yêu cầu của mình nhằm tìm kiếm giải pháp loại trừ tranh chấp.

Mỗi hình thức thương lượng đều có những ưu nhược điểm nhất định, các bên cần xem xét và lựa chọn giữa hai hình thức này cho phù hợp.

d)    Các bước tiến hành thương lượng

Thương lượng là quá trình giải quyết tranh chấp mang đặc điểm linh hoạt, tự do theo thỏa thuận giữa các bên tranh chấp nên pháp luật không quy định cụ thể quá trình thực hiện trên thực tế. Thông thường thương lượng được thực hiện theo các bước sau:

–      Hai bên tranh chấp cử đại diện gặp nhau để trao đổi, đưa ra quan điểm của mình, đề xuất những phương án giải quyết để bên kia xem xét. Đối với phương thức thương lượng gián tiếp thì các bên thể hiện ý chí của mình thông qua văn viết rồi sau đó gửi bản thương lượng đó cho bên kia.

–      Hai bên tranh chấp tiến hành thương lượng, đưa ra ý kiến thống nhất cho lợi ích của cả hai bên.

–      Kết thúc thương lượng: Nếu hai bên nhất trí phương án giải quyết hợp lí nhất; sau khi đã thống nhất phương án giải quyết thì các bên tiến tới thực hiện theo như thương lượng để giải quyết tranh chấp thương mại đang phát sinh. Nếu không đồng ý với phương án nào, trường hợp này thương lượng không đạt hiệu quả không giải quyết được tranh chấp tồn tại hai bên phải lựa chọn phương thức khác.

1.2 Ưu điểm và nhược điểm

a)    Ưu điểm

Ưu điểm nổi bật nhất của phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng là sự thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, tính linh hoạt, hiệu quả và ít tốn kém. Bởi lẽ, thương lượng thực chất là sự gặp mặt giữa các bên tranh chấp để thỏa thuận, trao đổi, bày tỏ ý chí nguyện vọng của mình nhằm đưa ra cách giải quyết tốt nhất. Cho nên hai bên có thể tự do lựa chọn, quyết định địa điểm, thời gian, cách thức lương lượng mà không bị ràng buộc bởi bên thứ ba nào khác nên quá trình thương lượng đảm bảo tính linh hoạt, ít tốn kém. Phương thức thực hiện đơn giản, lại không bị ràng buộc bởi những thủ tục pháp lí phức tạp, các bên được toàn quyền quyết định việc thực hiện thương lượng cho nên phương thức này được các giới thương nhân lựa chọn nhiều mỗi khi xảy ra tranh chấp.

Hơn nữa thương lượng cũng bảo vệ được uy tín cũng như bí mật kinh doanh được đảm bảo tối đa và mức độ phương hại đến mối quan hệ hợp tác giữa các bên cũng thấp. Các nhà kinh doanh hơn ai hết tự biết bảo vệ quyền lợi của bản thân mình, hiểu rõ những bất đồng và nguyên nhân phát sinh tranh chấp nên quá trình đàm phán, thương lượng dễ hiểu và cảm thông với nhau hơn để tranh có thể thỏa thuận được các giải pháp tối ưu theo đúng nguyện vọng của mỗi bên mà không phải cơ quan tài phán nào cũng có thể làm được. Không những thế còn tăng cường sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau sau khi thương lượng thành công.

b)    Nhược điểm

Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, phương thức giải quyết chấp thương mại bằng thương lượng cũng có những hạn chế nhất định, đó là:

–   Thương lượng có thành công hay không phụ thuộc vào sự hiểu biết và thái độ thiện chí, hợp tác của các bên tranh chấp. Nếu một trong các bên tranh chấp thiếu sự hiểu biết về lĩnh vực và vấn đề đang tranh chấp, không nhận thức được vị thế của mình về khả năng thắng thua nếu phải theo đuổi vụ kiện tại cơ quan tài phán hoặc không có thái độ nỗ lực hợp tác, thiếu sự thiện chí, trung thực trong quá trình thương lượng thì khả năng thành công là rất mong manh, kết quả thương lượng thường bế tắc.

–   Hình thức thương lượng chỉ thích hợp đối với các bên thực sự có thiện chí muốn tìm giải pháp đối với tranh chấp. Nếu có bên muốn dùng hình thức thương lượng để kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ thì thương lượng chỉ làm tốn kém và kéo dài thời gian hơn.

–   Kết quả thương lượng không được đảm bảo bằng cơ chế pháp lí mang tính bắt buộc. Dù các bên có đạt được thỏa thuận để giải quyết vụ tranh chấp thì việc thực thi kết quả thương lượng cũng vẫn phụ thuộc vào sự tự nguyện của bên phải thi hành. Do không có một cơ quan cưỡng chế đảm bảo việc thực hiện kết quả thương lượng cho nên đã làm hạn chế đi phần nào hiệu quả của phương thức này.

2.     Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải:

Hoà giải thương mại hay trung gian thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp rất phổ biến trên thế giới, đặc biệt tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Theo Điều 37 Pháp lệnh trọng tài thương mại ngày 25/02/2003 (có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2003) quy định, các bên có thể tự hòa giải khi xảy ra tranh chấp.

2.1 Nội dung

a)    Khái niệm

Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh.

b)    Bản chất, đặc điểm

Thứ nhất, hoà giải là quá trình các bên đàm phán với nhau về việc giải quyết tranh chấp với sự trợ giúp của một bên thứ ba độc lập (hoà giải viên). Vai trò của hòa giải viên trong quá trình hòa giải chỉ dừng lại ở việc khuyến khích và trợ giúp các bên tìm ra một giải pháp mang tính thực tế mà tất cả các bên liên quan đều có thể chấp nhận sau khi xem xét, nghiên cứu những lợi ích và nhu cầu của họ. Họ không có quyền quyết định hay áp đặt ràng buộc các bên tranh chấp. Tùy thuộc nội dung, tính chất của vụ tranh chấp và sự thỏa thuận của các bên, số lượng hòa giải viên có thể là một hoặc nhiều. Hòa giải khác với phương thức thương lượng ở sự có mặt của bên thứ ba (hòa giải viên) và cũng khác với phương thức trọng tài ở chỗ, hòa giải viên không có quyền xét xử và ra phán quyết như trọng tài viên.

Thứ hai, trong quá trình hòa giải các bên không chịu sự chi phối bởi các quy định có tính khuôn mẫu, bắt buộc của pháp luật về thủ tục hòa giải. Các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn việc thực hiện hòa giải để giải quyết tranh chấp phát sinh.

Thứ ba, kết quả hòa giải thành được thực thi cũng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên tranh chấp mà không có bất kì cơ chế nào đảm bảo thi hành những cam kết của các bên trong quá trình hòa giải.

c)     Các hình thức hòa giải

Trên thực tế có hai hình thức hòa giải là hòa giải ngoài tố tụng và hòa giải trong tố tụng. Hòa giải ngoài tố tụng là hòa giải trung gian, được các bên tiến hành trước khi đưa vụ tranh chấp ra cơ quan tư pháp giải quyết. Hòa giải trong tố tụng là hòa giải được tiến hành tại tòa án khi cơ quan này giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của các bên.

d)    Các bước tiến hành hòa giải

Để tiến hành hòa giải đạt hiệu quả mong muốn, thông thường các bên tranh chấp cần tiến hành các bước sau đây:

–   Các bên tranh chấp trao đổi thông tin, tài liệu, những vấn đề có liên quan để làm rõ yêu cầu cũng như khả năng, vị thế của mỗi bên đồng thời thương thảo lựa chọn bên (hoặc các bên) làm trung gian hòa giải (hội đồng định giá, giám định viên…) nếu các bên chưa có thỏa thuận hoặc mới có thỏa thuận mang tính nguyên tắc về trung gian hòa giải.

–         Các bên có thể xác định một thủ tục tiến hành hòa giải qua trung gian. Nếu không có thỏa thuận về vấn đề này thì có thể hiểu một thủ tục linh hoạt, mềm dẻo đã được các bên trao cho người trung gian hòa giải có toàn quyền quyết định.

–         Các bên trình bày ý kiến, quan điểm của mình về nội dung vụ tranh chấp, lắng nghe ý kiến của người khác và đề xuất phương án giải quyết tranh chấp.

–         Người trung gian hòa giải xem xét, phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ việc, làm sáng tỏ vị thế của các bên tranh chấp.

–         Trên cơ sở những phân tích, đánh giá và khuyến nghị của người trung gian hòa giải về các giải pháp cần lựa chọn, nếu các bên thỏa thuận được với nhau về phương án giải quyết tranh chấp thì nội dung sự thỏa thuận phải được ghi nhận bằng văn bản và phải có đầy đủ chữ kí xác nhận của đại diện các bên và người trung gian hòa giải.

2.2 Ưu điểm và nhược điểm

a)    Ưu điểm

Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải cũng có nhiều ưu điểm như phương thức thương lượng, bởi tính đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, sự linh hoạt, hiệu quả và ít tốn kém.

Phương thức hòa giải rõ ràng linh hoạt hơn cả về mặt thủ tục cũng như kết quả giải quyết vụ tranh chấp. Các bên hoàn toàn làm chủ quy trình hòa giải cũng như quyết định nội dung thỏa thuận về việc giải quyết vụ tranh chấp. Hòa giải có thể được tiến hành trong nhiều môi trường khác nhau, thủ tục có thể được thỏa thuận và điều chỉnh cho thích nghi. Tính linh hoạt đem lại lợi thế là các bên được bày tỏ ý kiến xem quá trình nào thì phù hợp với họ; cho phép có những điều chỉnh khi bản chất của tranh chấp và các bên tranh chấp đòi hỏi phải vậy; tránh khả năng về việc có những yêu cầu về thủ tục kỹ thuật quá phức tạp.

Hòa giải giúp giải quyết tranh chấp thương mại một cách nhanh chóng, mau lẹ, ít tốn kém, tiết kiệm được thời gian và chi phí tiền bạc. Nếu giải quyết tranh chấp bằng thủ tục trọng tài hoặc thủ tục tư pháp mất khá nhiều thời gian do các bên phải chờ đợi cơ quan trọng tài, tòa án thực hiện nhiều thủ tục do luật định…thì giải quyết tranh chấp bằng hòa giải ngoài tố tụng có mức chi phí thấp hơn những khoản phí, lệ phí lớn, thời gian giải quyết nhanh hơn do các bên chủ động.

Người thứ ba được các bên chọn lựa làm trung gian hòa giải thường là người có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm, am hiểu lĩnh vực và vấn đề đang tranh chấp. Khi hiểu rõ được nguyên nhân, hoàn cảnh phát sinh mâu thuẫn cũng như quan điểm, nhận thức của mỗi bên, họ sẽ biết cách làm cho ý chí của các bên dễ gặp nhau trong quá trình đàm phán để loại trừ tranh chấp. Do đó cơ hội thành công trong hòa giải lại cao hơn so với thương lượng.

Ngoài ra, nguyên tắc bí mật của hòa giải cũng giúp các bên bảo vệ được bí mật kinh doanh của mình, đặc biệt là giữ gìn hình ảnh của doanh nghiệp mình trong mắt các đối tác và khách hàng. Điều quan trọng nhất mà hòa giải có thể mang lại cho các doanh nghiệp đó là việc duy trì mối quan hệ kinh doanh giữa các bên, điều này đặc biệt quan trọng khi các bên tranh chấp vốn là những đối tác có mối quan hệ kinh doanh lâu dài và có sự tín nhiệm nhất định đối với nhau.

Kết quả hòa giải được ghi nhận và chứng kiến bởi người thứ ba nên mức độ tôn trọng và tự nguyện tuân thủ các cam kết đã đạt được trong quá trình hòa giải cũng cao hơn so với phương thức thương lượng.

b)    Nhược điểm

Bên cạnh những ưu điểm trên, hòa giải cũng không thoát li được những hạn chế tương tự như phương thức thương lượng nói trên. Bởi nền tảng của hòa giải vẫn được quyết định trên cơ sở ý chí thỏa thuận cũng như sự tự nguyện thi hành của mỗi bên tranh chấp mà không có cơ chế pháp lý ràng buộc nên cho dù có sự trợ giúp của người thứ ba mà một bên không trung thực, thiếu sự thiện chí, hợp tác trong quá trình đàm phán thì hòa giải khó mà đạt được kết quả như mong đợi. Việc sử dụng nhiều hòa giải viên có thể không đảm bảo được tính bảo mật_một trong những ưu điểm của hòa giải.

3.     Phương thức giải quyết thương mại bằng trọng tài.

3.1 Nội dung

a)    Khái niệm

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010 thì: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này”. Trọng tài thương mại là một tổ chức phi chính phủ. Là một tổ chức xã hội – nghề nghiệp có thẩm quyền giải quyết một số tranh chấp theo qui định của pháp luật, không phụ thuộc vào quốc tịch của các bên tranh chấp. Quá trình giải quyết, được thực hiện theo nguyên tắc “phân xử trọng tài” phù hợp với quy định trong Luật Trọng tài thương mại và quy chế của Tổ chức trọng tài mà các bên đã lựa chọn.

b)    Bản chất, đặc điểm

Xét về bản chất, trọng tài là một  hình thức tài phán tư khác với tòa án là cơ quan tài phán nhà nước, được nhà nước thành lập và giao quyền thay mặt Nhà nước xét xử, giải quyết tranh chấp bất đồng giữa cá nhân, tổ chức trong xã hội, thì trọng tài là cơ quan tài phán mang bản chất phi nhà nước, không do nhà nước thành lập mà được hình thành trên cơ sở quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp. Bản chất của phương thức này thể hiện ở một số điểm đặc trưng cơ bản sau đây:

Một là, trọng tài nhân danh ý chí của các bên khi giải quyết tranh chấp chứ không nhân danh quyền lực nhà nước. Trọng tài thương mại là một tổ chức phi chính phủ, nhận giải quyết các vụ tranh chấp khi các bên có thỏa thuận bằng văn bản về việc chọn trọng tài. Trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hoàn toàn không có sự can thiệp của nhà nước. Chỉ khi một hay các bên không thỏa mãn với phán quyết của trọng tài thì mới đề nghị tòa án giải quyết tiếp.

Hai là, trọng tài chỉ xét xử một lần, phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm và có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên tranh chấp. Trọng tài thương mại không có cơ quan cấp trên nên phán quyết của trọng tài thương mại có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo kháng nghị như thủ tục tố tụng tư pháp. Các tranh chấp thương mại chỉ được giải quyết bằng trọng tài một lần duy nhất.

Ba là, thủ tục trọng tài đơn giản, mềm dẻo, linh hoạt và không công khai. Vì trọng tài thương mại nhân danh ý chí của các bên tranh chấp nên để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các bên, cơ quan trọng tài sẽ tiến hành theo thủ tục trình tự đơn giản những hiệu quả tiến tới thống nhất phương án giải quyết cuối cùng.

c)     Các hình thức tổ chức trọng tài:

Trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức đó là trọng tài vụ việc và trọng tài thường trực:

Trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên và trọng tài sẽ tự chấm dứt tồn tại khi giải quyết xong vụ tranh chấp. Trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành và không có danh sách trọng tài viên riêng. Trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình.

Trọng tài thường trực luôn luôn tồn tại không phụ thuộc vào tranh chấp của các bên. Trọng tài thường trực được tổ chức dưới dạng các trung tâm trọng tài. Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ không nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước, có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản riêng và trụ sở giao dịch ổn định. Tổ chức và quản lí ở các trung tâm trọng tài rất đơn giản gọn nhẹ. Mỗi trung tâm trọng tài tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và có quy tắc tố tụng riêng.

d)    Thủ tục tiến hành

Thủ tục tiến hành giải quyết tranh chấp tại hội đồng trọng tài của trung tâm trọng tài và hội đồng trọng tài do các bên thành lập là tương đối giống nhau, đều trải qua các bước như sau: nộp đơn kiện; tự bảo vệ của bị đơn; thành lập hội đồng trọng tài tại trung tâm trọng tài, chuẩn bị giải quyết; tiến hành hoà giải thương lượng mà không có sự can thiệp của trọng tài; tổ chức phiên họp giải quyết tranh chấp và quyết định trọng tài.

3.2 Ưu điểm, nhược điểm

a)    Ưu điểm

Thứ nhất, giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại được thực hiện theo trình tự tố tụng linh hoạt và mềm dẻo. Các bên thông thường được tự do lựa chọn thủ tục, thời gian, địa điểm phương thức giải quyết tranh chấp theo phương thức tiện lợi, nhanh chóng, hiệu quả nhất cho các bên trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Điều này có thể làm giảm chi phí, thời gian và tăng hiệu quả cho quá trình giải quyết tranh chấp.

Thứ hai, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đảm bảo tối đa quyền tự chủ của các bên tranh chấp. Việc đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết là xuất phát từ thỏa thuận của các bên có quyền lựa chọn cơ quan trọng tài, lựa chọn hình thức trọng tài, lựa chọn các quy tắc tố tụng trọng tài, lựa chọn trọng tài viên để giải quyết tranh chấp cho mình không phụ thuộc vào nơi đặt trụ sở hoặc nơi cư trú của các bên…So với việc giải quyết tranh chấp bằng tòa án thì bị ràng buộc bởi các quy tắc tố tụng, tòa án có thẩm quyền xét xử không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên.

Thứ ba, tính chung thẩm và hiệu lực của quyết định trọng tài đối với việc giải quyết tranh chấp. Việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại có ưu điểm nổi bật so với Tòa án ở chỗ nhanh gọn, kín đáo và phán quyết của trọng tài là có giá trị chung thẩm, tức có hiệu lực cuối cùng. Trong khi Tòa án xử thì phải 2 – 3 lần, từ sơ thẩm đến phúc thẩm, rồi còn thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, rồi còn khiếu nại, khiếu kiện và còn có sự tham gia của nhiều cơ quan khác (như Viện kiểm sát…). Còn cách thức giải quyết bằng trọng tài lại hết sức đơn giản và linh động. Tính chung thẩm của quyết định trọng tài không chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên đương sự mà nó còn khiến các bên không thể chống án hay kháng cáo. Xét xử tại trọng tài chỉ có một cấp xét xử. Khi tuyên phán quyết xong, Uỷ ban Trọng tài (Hội đồng trọng tài) hoàn thành nhiệm vụ và chấm dứt sự tồn tại của mình. Những ưu điểm này đặc biệt quan trọng đối với hoạt động đầu tư thương mại. Chính những ưu điểm đó bảo đảm rằng nếu các bên ưu tiên giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì các nhà đầu tư sẽ giảm rủi ro cho bên nước ngoài khi quyết định tham gia đầu tư thương mại tại Việt Nam; tạo thuận lợi cho các bên nước ngoài và cả bên Việt Nam thông qua việc giải quyết tranh chấp tại Việt Nam.

Thứ tư, trọng tài là cơ chế giải quyết tranh chấp bảo đảm bí mật cho các bên đương sự. Điều 4 Luật trọng tài thương mại quy định: “Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”. Hầu hết pháp luật về trọng tài các nước thừa nhận nguyên tắc xét xử “ kín” nếu giữa các bên không có sự thoả thuận khác. Tính bí mật thể hiện rõ ở nội dung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín, đáp ứng nhu cầu tin cậy trong quan hệ thương mại. Điều đó có ý nghĩa lớn trong điều kiện cạnh tranh. Đây là ưu điểm đối với những doanh nghiệp không muốn các chi tiết trong vụ tranh chấp của mình bị đem ra công khai, tiết lộ trước Tòa án (hoặc công chúng) – điều mà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt động kinh doanh của mình.

Thứ năm, trọng tài thương mại giải quyết trên cơ sở thoả thuận và tạo khả năng sau tranh chấp duy trì được quan hệ đối tác các bên. Chính bởi có sự qua lại trên cơ sở tôn trọng mong muốn của nhau nên các bên cần giữ được mối hoà khí trong quan hệ hợp tác kinh doanh. Thêm vào đó tại phiên họp giải quyết tranh chấp khi chỉ có hai bên đối tác họ có thể trao đổi kín đáo, nhẹ nhàng, làm giảm những xung đột  căng thẳng, bất đồng hai bên. Đó là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì được quan hệ đối tác, quan hệ thiện chí đối với nhau và đặc biệt, sự tự nguyện thi hành quyết định trọng tài của một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tưởng tốt hơn trong quan hệ làm ăn trong tương lai.

Thứ sáu, khi xét xử, trọng tài cho phép các bên được sử dụng kinh nghiệm của các chuyên gia và điều này được thể hiện ở quyền chọn Trọng tài viên của các bên. Các bên có thể chọn một Hội đồng Trọng tài dựa trên trình độ, năng lực, sự hiểu biết vững vàng của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vực chuyên biệt như licensing, leasing, xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, sở hữu trí tuệ, chứng khoán…

Thứ bảy, tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài – một tổ chức phi chính phủ, nhưng được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của Toà án trên các mặt sau[2]: Xác định giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài; giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; xét đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài; công nhận và thi hành quyết định trọng tài. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu quyền và lợi ích của một bên bị xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại thì có quyền làm đơn yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhằm bảo toàn chứng cứ trong trường hợp chứng cứ bị tiêu huỷ hoặc có nguy cơ bị tiêu huỷ; kê biên tài sản tranh chấp để ngăn ngừa việc tẩu tán tài sản; cấm chuyển dịch tài sản tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng của tài sản tranh chấp; kê biên và niêm phong tài sản ở nơi gửi giữ; phong toả tài khoản tại ngân hàng. Việc đánh giá và sử dụng nguồn chứng cứ tại các cơ quan trọng tài rộng hơn, tự do hơn, mang tính xã hội hơn, tạo điều kiện cho các bên làm sáng tỏ những vấn đề nhạy cảm. Trong khi đó, Toà án áp dụng các chứng cứ để tố tụng bị ràng buộc hơn về mặt pháp lý, làm cho các bên tham gia tố tụng không có cơ hội làm sáng tỏ hết được nhiều vấn đề khúc mắc, không thể hiện trên các chứng cứ “pháp lý”.

Ngoài ra phán quyết của trọng tài được sự công nhận của quốc tế. Thông qua một loạt các công ước quốc tế, đặc biệt là Công ước New – york năm 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài.

b)    Nhược điểm

Bên cạnh những ưu điểm giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại còn có những hạn chế nhất định:

Thứ nhất, chi phí cho việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài quá lớn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có khả năng chi trả. So với phương thức giải quyết tranh chấp khác như thương lượng, hòa giải thì việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tốn kém hơn.

Thứ hai, trọng tài tuyên án chỉ sau một cấp xét xử duy nhất, nên đôi khi các quyết định của trọng tài là không chính xác, gây thiệt hại đối với doanh nghiệp.

Thứ ba, việc phán quyết có thể bị huỷ bỏ quyết định của toá án cũng là điểm hạn chế vì nó hạn chế hiệu lực của phán quyết trọng tài cũng như giảm sự tin cậy vào cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

4. Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng tòa án.

4.1 Nội dung

a)    Khái niệm

Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của tòa án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước.

b)    Bản chất, đặc điểm:

Thứ nhất, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án có sự tham gia của bên thứ ba đó là tòa án thông qua hoạt động xét xử thông qua hội đồng xét xử. Tòa án là cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước và việc giải quyết tranh chấp bằng tòa án không cần phải có sự thỏa thuận trước.

Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp tại tòa án phải tuân thủ nguyên tắc tố tụng do pháp luật quy định.

Thứ ba, Tòa án xét xử theo nguyên tắc công khai, trừ trường hợp cần xét xử kín để giữ gìn bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ kín bí mật theo yêu cầu chính đáng của các đương sự.

Thứ tư, việc giải quyết tranh chấp thông qua quyết định của toà án có thể qua nhiều cấp độ xét xử . Nguyên tắc này đảm bảo cho quyết định của toà án được chính xác , công khai , khách quan và đúng pháp luật.

Thứ năm, kết quả của việc giải quyết tranh chấp là một bản án do Hội đồng xét xử tuyên có giá trị bắt buộc đối với các bên khi nó có hiệu lực pháp luật. Khi bản án đã có hiệu lực thì các bên phải chấp hành, nếu không sẽ bị cưỡng chế theo quy định của pháp luật.

c)     Thủ tục tiến hành

–         Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm, gồm có khởi kiện và thụ lý vụ án; hòa giải và chuẩn bị xét xử; phiên tòa sơ thẩm.

–         Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa cấp phúc thẩm.

–         Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bao gồm: thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm.

4.2 Ưu điểm, nhược điểm

a)    Ưu điểm

Việc dựa vào cơ quan tài phán là toà án kinh tế để giải quyết các tranh chấp kinh tế có những ưu điểm nhất định. Trước hết phải kể đến, toà án là cơ quan nhân danh nhà nước để giải quyết tranh chấp, do đó phản quyết của toà án được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. Cơ quan thi hành án là một cơ quan chuyên trách và có đầy đủ bộ máy, phương tiện để thi hành các bản án đã có hiệu lực pháp luật. Đăc điểm này được có thể coi là yếu tố hấp dẫn nhất khiến các bên tranh chấp thường tìm đến phương thức giải quyết tranh chấp tại toà án.

Khi giải quyết tranh chấp tại toà án, việc giải quyết có thể qua nhiều cấp xét xử, vì thế nguyên tắc nhiều cấp xét xử bảo đảm cho quyết định của toà án được chính xác, công bằng, khách quan và đúng với pháp luật.

Ngoài ra, ta còn thấy thẩm quyền giải quyết của toà án được mở rộng đến tất cả các ngành kinh tế. Chính vì thế, khi xảy ra tranh chấp, người ta thường nghĩ đến toà án như là nơi bao quát giải quyết mọi vấn đề.

Với điều kiện thực tế ở Việt Nam hiện nay, chi phí cho việc giải quyết tranh chấp kinh tế tại toà án thấp hơn rất nhiều so với việc nhờ đến các tổ chức trọng tài thương mại hay trọng tài quốc tế.

b)    Nhược điểm

Tuy toà án là cơ quan tài phán có sức mạnh cưỡng chế giúp đôi bên có thể giải quyết tranh chấp một cách triệt để, nhưng phương thức giải quyết tranh chấp này cũng bộc lộ ra nhiều hạn chế:

Đầu tiên, khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng toà án, các bên phải nắm rõ đươc bản chất, vì việc giải quyết tranh chấp của toà án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định mang tính hình thức của pháp luật tố tụng, và đặc điểm này đôi khi có thể gây trở ngại cho các bên tranh chấp vì tính chất của động kinh doanh, thương mại đòi hỏi mọi thủ tục phải rất linh hoạt và mềm dẻo.

Một điều bất lợi nữa của toà án, đó là nguyên tắc xét xử công khai. Điều này xuất phát từ bản chất của hoạt động xét xử là bảo vệ pháp chế và duy trì công lý đã được pháp luật quy định, xã hội thừa nhận. Mặt khác, hoạt động xét xử công khai của toà án còn có tác dụng răn đe, cảnh cáo những hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, để giữ bí mật nhà nước hoặc bí mật nghề nghiệp theo yêu cầu chính đáng của đương sư, toà án có thể xử kín nhưng phải tuyên án công khai. Các doanh nghiệp làm ăn trên thương trường đều không muốn mang dấu đen phải ra toà để giải quyết tranh chấp, nó có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của họ, cho nên khuyết điểm này có thể coi là lớn nhất.

Mặc dù nguyên tắc xét xử nhiều cấp đảm bảo cho quyết định của toà án là chính xác, công bằng. Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng sẽ khiến cho vụ việc có thể bị kéo dài, xử đi xử lại nhiều lần gây bất lợi cho đương sự, nhất là những tranh chấp kinh tế có giá trị lớn đòi hỏi phải giải quyết nhanh chóng, dứt điểm. Việc dây dưa, kéo dài vụ việc sẽ gây căng thẳng tâm lý, làm mất thời giờ, tiền bạc của doanh nghiệp và có khi phải bỏ lỡ một cách đáng tiếc các cơ hội kinh doanh.

Khả năng tác động của các bên trong quá trình tố tụng rất hạn chế, đôi lúc nó không thể hiện được hết nguyện vọng của các bên tranh chấp.

III. Đánh giá chung

Với những phân tích trên đây, có thể thấy rằng ưu điểm nổi trội nhất của các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại thương lượng, hòa giải và trọng tài thương mại là không mang tính quyền lực Nhà nước, không bị ràng buộc bởi thủ tục phức tạp, rườm rà mà chủ yếu được giải quyết theo ý chí của các bên tranh chấp hoặc phán quyết của bên thứ ba độc lập (được các bên lựa chọn) theo những thủ tục linh hoạt, nhanh gọn, đảm bảo tối đa quyền tự chủ của các bên. Và hơn nữa những phương thức này đảm bảo tối đa bí mật cũng như uy tín của doanh nghiệp, góp phần củng cố và duy trì mối quan hệ hợp tác lâu dài trong tương lai của các bên. Đối với tòa án thì lại là phương thức giải quyết tranh chấp mang ý chí quyền lực nhà nước, xét xử công khai cộng với những thủ tục phức tạp. Cho nên hiện nay các doanh nghiệp thường lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp thương lượng, hòa giải và trọng tài thương mại hơn mặc dù có những nhược điểm như đã trình bày ở trên.

Hiện nay, phương thức hòa giải được sử dụng nhiều, nhưng phạm vi và hiệu quả áp dụng còn ở mức khiêm tốn. Đặc biệt hòa giải với tư cách là một phương thức GQTC thay thế dường như vẫn được coi là công việc riêng tư của các bên nên cho đến thời điểm hiện tại, hầu như không có văn bản nào quy định cụ thể, hướng dẫn chi tiết về quy trình, thủ tục, nội dung, hiệu lực của phương thức GQTC này. Ở nước ta, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định: “khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”. Đây là chủ trương rất quan trọng làm cơ sở cho việc xây dựng các quy định pháp luật về các phương thức GQTC thay thế như hòa giải, trọng tài.

Tuy nhiên đối với những tranh chấp thương mại có quy mô lớn và phức tạp, khó có thể giải quyết bằng thương lượng hòa giải thì các bên thường lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại mà không muốn đưa ra Tòa án. So với phương thức giải quyết bằng Trọng tài, việc đưa vụ việc ra Tòa án thực sự là giải pháp cuối cùng ác bên phải cân nhắc khi biết những phức tạp thực tế từ việc GQTC tại Tòa án; như là thủ tục kéo dài với nhiều cấp xét xử, sự công khai trong quá trình xét xử công khai và tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc cho các bên. Đồng thời khi đó, quan hệ giao thương giữa các đối tác khó có thể gắn kết lại như lúc ban đầu. Tuy nhiên, việc GQTC bằng Trọng tài thương mại tại Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại vẫn còn rất nhiều điểm hạn chế, như là: hạn chế trong chính quy định về phạm vi áp dụng của phương thức, Trọng tài chỉ có thẩm quyền xét xử nếu giữa các bên tồn tại một thỏa thuận chọn Trọng tài để giải quyết tranh chấp, phải thỏa thuận trọng tài cụ thể, rõ ràng và theo đúng quy định của pháp luật, hạn chế về luật áp dụng trong giải quyết Trọng tài và cũng là cơ sở để cho rằng: việc giải quyết bằng Trọng tài hiện nay tại Việt Nam không thực sự tiến bộ hơn so với Tòa án….

Tóm lại, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh, thương mại ngày càng đa dạng và không ngừng phát triển trong tất cả mọi lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ, đầu tư… Vấn đề lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại phải được các bên cân nhắc, lựa chọn phù hợp dựa trên các yếu tố như mục tiêu đạt được, bản chất của tranh chấp, mối quan hệ làm ăn giữa các bên, thời gian và chi phí dành cho việc giải quyết tranh chấp. Chính vì vậy, khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, các bên cần hiểu rõ bản chất và cân nhắc các ưu điểm, nhược điểm của một phương thức để có quyết định hợp lý.

C. KẾT LUẬN

Trong nền kinh tế thị trường, các nhà kinh doanh đều muốn xây dựng lòng tin, duy trì mối quan hệ kinh tế với các đối tác một cách lâu dài để bảo đảm cho hoạt động kinh doanh, thương mại ổn định và phát triển. Tuy vậy, đôi khi vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, các mối quan hệ kinh tế thương mại giữa các nhà kinh doanh cũng có những bất đồng và mâu thuẫn dẫn đến các tranh chấp trong việc thực hiện các cam kết. Vì thế, cần phải có những phương thức giải quyết tranh chấp nhanh gọn, tiết kiệm và có thể duy trì được quan hệ làm ăn giữa các bên. Những tranh chấp xảy ra là điều không tránh khỏi những lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp nào vừa đảm bảo có lợi cho thương nhân vừa duy trì được mối quan hệ làm ăn là việc mà các thương nhân cần cân nhắc.


[1] Trần Đình Hào – Hòa giải, thương lượng trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế – Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1/2000 – trang 30.

 

  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: