Cá nhân 2 Luật Hình sự 2 – Đề số 2


Đề số 2: Chị A đi xe máy thăm người quen, dọc đường xe bị chết máy. Đang loay hoay khởi động lại xe thì thấy H đi qua. Chị A nhờ H sửa chữa xe máy. Sau một hồi sửa chữa H ngồi lên yên, khởi động xe và phóng đi mất. Chị A hô mọi người giữ lại nhưng không được.

H đem xe máy đến nhà B (là người quen của H) gửi và sau đó đem đi bán được 12.000.000 đồng, H chia cho B 1.500.000 đồng.

Hỏi:

  1. Hành vi của H cấu thành tội gì? Tại sao? (5 điểm)
  2. B có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Tại sao? (2 điểm)

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Tập 1- Trường Đại học Luật Hà Nội- NXB.CAND Hà Nội, 2009.
  2. Giáo trình Luật hình sự (Phần chung)- Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội- NXB.ĐHQG, Hà Nội 2005.
  3. Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam- NXB. Lao động- xã hội, 2009.
  4. Thông tư liên tịch số 02/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV BLHS năm 1999;
  5.  Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001  hướng dẫn áp dụng một số quy định của các điều 139, 193, 194, 278, 279 và 289 BLHS năm 1999;
  6. Bàn về định tội danh đối với một số tội xâm phạm sở hữu, ThS. LÊ VĂN LUẬT – TAND huyện Hướng Hóa, Quảng Trị, Tạp chí khoa học pháp lý 01/2006

BÀI LÀM

1. Hành vi của H cấu thành tội gì? Tại sao? (5 điểm)

Hành vi của H cấu thành tội “Cướp giật tài sản” vì những căn cứ sau:

Khoản 1 Điều 136 BLHS quy định “Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”.

Thông thường tội cướp giật tài sản thường biểu hiện qua các hành vi khách quan như giật lấy, giằng lấy tài sản đang trong sự quản lý của người khác rồi nhanh chóng tẩu thoát. Ví dụ: hành vi giật đồng hồ, giật giây chuyền vàng, giật túi xách, giật điện thoại di động,… nếu trong các trường hợp đó mà có sự cự lại của chủ quản lý tài sản thì còn có thêm sự giằng lấy rồi nhanh chóng tẩu thoát. Các hành vi này thể hiện rất rõ tội “Cướp giật tài sản”.

Nhưng trong thực tiễn xét xử về tội cướp giật tài sản thì hành vi khách quan của tội phạm này thể hiện rất đa dạng và phức tạp. Để mong muốn chiếm đoạt được tài sản của người khác người phạm tội có sự chuẩn bị phạm tội cũng như thực hiện một loạt các thủ đoạn xảo quyệt khác để đạt được mục đích đó như tìm cách tiếp cận người quản lý tài sản, tiếp cận tài sản, tạo ra sự sơ hở đối với người quản lý tài sản để dễ chiếm đoạt tài sản đó…

Hành vi chiếm đoạt tài sản ở tội cướp giật tài sản có hai dấu hiệu để phân biệt với những hành vi chiếm đoạt ở các tội phạm khác, đó là dấu hiệu công khai và dấu hiệu nhanh chóng.

Không thể nhận định rằng H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” vì trong vụ án này, H đã có hành vi chiếm đoạt chiếc xe máy của chị A một cách công khai rồi nhanh chóng tẩu thoát. Mặc dù trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chị A, H đã có các hành vi gian dối như giả vờ sửa chữa xe cho chị A, nhân lúc chị A không để ý đã ngồi lên yên xe, khởi động xe và phóng đi mất, nhưng đây chỉ là những thủ đoạn mà H dùng để dễ dàng tiếp cận tài sản và tạo ra sự thuận lợi để thực hiện hành vi chiếm đoạt. Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe máy của chị A thì H hoàn toàn công khai, sau đó nhanh chóng tẩu thoát. Đây là yếu tố hết sức quan trọng để định tội “Cướp giật tài sản” mà không phải định tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với H.

Ở tội cướp giật tài sản thì tại ngay trong thời điểm người phạm tội thực hiện việc chiếm đoạt tài sản, chủ quản lý tài sản đã nhận biết được việc chiếm đoạt đó còn người phạm tội thì công khai chiếm đoạt và nhanh chóng tẩu thoát. Trong tội cướp giật tài sản người có tài sản không có hành vi chuyển giao quyền sở hữu hoặc chuyển giao quyền quản lý tài sản cho người phạm tội ngoài phạm vi kiểm soát của họ mà người có tài sản chỉ chuyển giao sự quản lý tài sản tạm thời ngay khi có sự kiểm soát của họ.

Trong vụ án này, H chỉ có hành vi lừa dối chị A để dễ tiếp cận chiếc xe máy của chị A và tạo ra sự sơ hở giữa chị A và chiếc xe máy; ở đây, chị A hoàn toàn không tự nguyển chuyển giao quyền sở hữu chiếc xe cho H, cũng không chuyển giao quyền quản lý chiếc xe cho H ngoài sự kiểm soát của chị A mà chỉ giao cho H sửa chữa xe tạm thời khi có chị A bên cạnh (dưới sự kiểm soát, quản lý chiếc xe của chị A). Vì vậy, trường hợp này thiếu một trong các yếu tố trong mặt khách quan của tội lừa đảo là “Chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đã nhầm tưởng, tin vào các thông tin không đúng sự thật của người phạm tội nên đã tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền quản lý tài sản cho người phạm tội”.

Cũng không thể nhận định rằng H phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản vì tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là việc người phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trong điều kiện người quản lý tài sản hoặc người chủ sở hữu về tài sản không có điều kiện bảo vệ tài sản của mình hoặc ngăn cản hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội. Hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản gồm có các đặc điểm sau: (1) Hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội thực hiện khi chủ quản lý tài sản hoặc chủ sở hữu về tài sản do hoàn cảnh khách quan mà không thể bảo vệ được tài sản của mình hoặc không ngăn cản được hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội; (2) Người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách công khai; (3) Sau khi chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội có thể có thêm hành vi nhanh chóng tẩu thoát. Mặc dù hành vi này không bắt buộc phải có nhưng có thể xảy ra.

Đối chiếu với vụ án của H, thì trường hợp của H không thỏa mãn yếu tố thứ (1) là “hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội thực hiện khi chủ quản lý tài sản hoặc chủ sở hữu về tài sản do hoàn cảnh khách quan mà không thể bảo vệ được tài sản của mình hoặc không ngăn cản được hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội”. Chị A không thể ngăn cản được hành vi chiếm đoạt chiếc xe máy của H là do H tạo ra điều kiện đó chứ không phải do hoàn cảnh khách quan đem lại. Vì vậy, hành vi của H không thỏa mãn cấu thành của tội “ Công nhiên chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 137 BLHS.

2. B có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Tại sao? (2 điểm)

Điều 250 – Bộ luật Hình sự có quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm .” Mặt khách quan của tội phạm này thể hiện ở hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ các tài sản do người khác phạm tội mà có như trộm cắp, cướp của… Tuy nhiên mặt chủ quan của tội phạm này được thực hiện do lỗi cố ý, có nghĩa là người phạm tội phải biết rõ là tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn chứa chấp, tiêu thụ. Nếu người chứa chấp, tiêu thụ không thể biết được đó là tài sản do phạm tội mà có thì hành vi không cấu thành tội phạm. Mặt chủ quan chính là yếu tố quan trọng nhất để làm căn cứ khi quyết định B có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không.

Trong vụ án này ta phải chia làm hai trường hợp: trường hợp thứ nhất là B không biết xe máy mà A gửi là do A phạm tội mà có và trường hợp thứ hai là B tuy biết xe máy A gửi là do A phạm tội mà có nhưng vẫn chứa chấp.

Trường hợp thứ nhất, nếu B không biết chiếc xe máy mà A gửi là do A phạm tội mà có, và cụ thể trong vụ án này B cũng không hứa hẹn trước điều gì, thì B không phải chịu trách nhiệm hình sự với tội “Chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được quy định tại điều 250 BLHS 1999. Số tiền 1.500.000 mà A đưa cho B sau khi A bán xe máy cũng không thể dùng làm bằng chứng để kết tội B

Trường hợp thứ hai, nếu B biết đây là xe ăn trộm nhưng vẫn cố tình chứa chấp thì đã phạm vào tội “Chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được quy định tại điều 250 BLHS 1999. Trong quy định về tội này, điều luật không xác định chứa chấp, tiêu thụ tài sản có giá trị bao nhiêu mà chỉ quy định “… chứa chấp, tiêu thụ tài sản mà biết rõ là do người khác phạm tội mà có…” Xét thấy chiếc xe máy của chị A mà H đem bán được 12.000.000 đồng có thể xếp vào “Tài sản, vật phạm pháp có giá trị lớn” theo khoản 2 điều 250 BLHS 1999 thì B có thể phải bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: