Bài tập học kỳ Luật Hình sự 2 – Đề số 1


ĐỀ BÀI SỐ 1

A là chủ kiêm lái xe chở xăng dầu. A ký hợp đồng với công ty X vận chuyển dầu chạy máy cho công ty. Sau vài lần vận chuyển, A đã học được thủ đoạn lấy bớt dầu vận chuyển cho công ty như sau: Khi nhận được dầu, A chạy xe tới địa điểm thu mua dầu của B và nhanh chóng rút dầu ra bán cho B mỗi lần 200 lít. Sau đó, A đổ đầy nước vào chiếc thùng phuy không mang sẵn đúng 200 lít. Đến địa điểm giao hàng, chiếc xe được cân đúng trọng lượng quy định nên được nhập dầu vào kho. Trong thời gian chờ đợi cân trọng lượng của xe sau khi giao dầu, A đã bí mật đổ hết số nước đã chất lên xe để khi cân chỉ còn đúng trọng lượng của xe. Bằng thủ đoạn trên, A đã nhiều lần lấy dầu được thuê vận chuyển với tổng trị giá là một trăm triệu đồng thì bị phát hiện.

a. Anh (chị) hãy xác định tội danh cho hành vi của A? (5 điểm)

b. B có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tiêu thụ dầu của A không? Nếu có thì tội danh cho hành vi của B là gì? (2 điểm)

BÀI LÀM

 1. Anh (chị ) hãy xác định tội danh cho hành vi phạm tội của A?

          Xác định tội danh: tội danh mà A đã phạm trong bài đó là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại điều 140 BLHS.

Có thể định nghĩa khái niệm “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” như sau: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là vay, mượn hoặc thuê tài sản của người khác hoặc nhận tài sản của người khác bằng các hình thức hợp pháp rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó, hoặc sử dụng tài sản đó và không có khả năng trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu.

Điều 140 BLHS quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bao gồm hai loại trường hợp sau:

–      Bằng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn, chiếm đoạt tài sản của người khác đã được giao cho mình trên cơ sở hợp đồng vay, mượn, thuê, …

–      Sử dụng tài sản của người khác đã được giao cho mình trên cơ sở hợp đồng vay, mượn, thuê, … vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Trong trường hợp bài đưa ra, nhận thấy hành vi của A đã có đủ tất cả các yếu tố cấu thành tội phạm cho tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điều 140 BLHS.

Các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

a) Về khách thể của tội phạm:

Cũng giống như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, thì tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà A đã thực hiện xâm phạm tới quan hệ sở hữu về tài sản được Luật hình sự bảo vệ. Ngoài ra, nó còn tác động xấu đến trật tự an toàn xã hội. Đối tượng của tội phạm này là tài sản.

Trên thực tế, hành vi của A đã gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu tài sản (cụ thể là số dầu chạy máy A được thuê vận chuyển) của công ty X. Sự gây thiệt hại này đã phản ánh được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội từ hành vi phạm tội cụ thể của A.

b)  Mặt khách quan của tội phạm:

Về hành vi khách quan của tội phạm, người phạm tội có các hành vi mô tả tại điểm a và b khoản 1 điều 140, là người được người khác tin tưởng, giao cho tài sản nên nhân cơ hội đó chiếm đoạt tài sản được giao, cụ thể như sau:

–      Nhận được tài sản bằng các hình thức hợp pháp nhưng sau đó dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó.

–      Nhận được tài sản bằng các hình thức hợp pháp nhưng sau đó bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó. Tuy nhiên, nếu việc bỏ trốn vì một lý do khác như sợ bị xiết nợ, sợ bị bắt, sợ bị gây thương tích, … thì việc bỏ trốn không cấu thành tội này.

–      Nhận được tài sản bằng các hình thức hợp pháp nhưng sau đó dùng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến mất khả năng hoàn trả. Sử dụng tài sản vào các mục đích bất hợp pháp ở đây thường là sử dụng vào việc phạm tội, như: để hối lộ, mua hàng cấm, buôn lậu, mua bán trái phép chất ma túy, …

Về đối tượng tác động của tội phạm: giá trị của tài sản bị chiếm đoạt từ 1.000.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm hoặc nếu tài sản có giá trị dưới 1.000.000 đồng thì phải gây ra hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt mà còn vi phạm, hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Tội phạm hoàn thành khi người nhận được tài sản có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để giữ lại tài sản hoặc định đoạt tài sản không theo cam kết. Cũng coi là tội phạm hoàn thành khi người nhận được tài sản bỏ trốn nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản đó hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến mất khả năng hoàn trả.

Theo đề bài ra, thông qua một hợp đồng vận chuyển hợp pháp, A đã được công ty X ủy quyền trong việc chuyên chở dầu máy cho công ty. Trong quá trình chuyên chở của mình, tức là mỗi khi A nhận được số dầu máy từ nơi cung cấp dầu máy để chuyển đến kho của công ty X, thì A đã có hành vi là không cho xe về ngay kho mà đã chạy xe tới điểm thu mua dầu của B và nhanh chóng rút bớt một số lượng dầu trên xe ra bán cho B, sau đó mới chuyển phần dầu còn lại về kho của công ty X, mỗi lần như vậy A đã bán cho B được 200 lít. Để tránh bị phát hiện việc đã lấy bớt số dầu chuyên chở, A đã có thủ đoạn gian dối bằng việc thay dầu bằng nước đổ đầy vào chiếc thùng phuy không A đã dự trữ sẵn trên xe để có thể cân bằng lại trọng lượng xe như ban đầu trước khi bán dầu cho B.

Ở đây, ta thấy rằng A không phải là chủ sở hữu của số dầu máy, nhưng A đã có hành vi đem bán số tài sản không thuộc sở hữu của A. A không có quyền quyết định đối với số tài sản đó. A chỉ có trách nhiệm chuyên chở và quản lý số dầu máy theo đúng như hợp đồng đã cam kết với công ty X.

Để che dấu cho hành vi phạm tội của mình, A đã dùng thủ đoạn rất xảo quyệt, chính vì thế mà rất khó bị phát hiện. Đồng thời với cơ chế kiểm tra số lượng bằng việc cân đong như của công ty X thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho hành vi của A được thực hiện trót lọt, và chính điều đó đã giúp A thực hiện được nhiều lần. Chỉ đến khi tổng giá trị số dầu máy mà A đã chiếm đoạt được lên đến 100 triệu đồng thì hành vi của A mới bị phát hiện.

          Hậu quả của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà A đã gây ra chính là sự thiệt hại về tài sản, cụ thể ở đây chính là số dầu máy mà A đã chiếm đoạt được của công ty X có tổng giá trị là một trăm triệu đồng.

c)  Về chủ thể của tội phạm.

Bất kỳ ai đủ tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật định, và là những người đã được chủ tài sản tín nhiệm giao cho khối lượng tài sản nhất định. Tuy nhiên, người từ 14 tuổi đến 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 và 4 điều này.

Theo như đề bài đưa ra thì A là chủ xe kiêm lái xe chở xăng dầu. Ở đây ta mặc định rằng A đã có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật. Như vậy, nếu căn cứ vào các quy định về việc cấp giấy phép điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, cụ thể ở đây là giấy phép điều khiển xe ô tô chở xăng dầu thì ta nhận thấy A phải là người đủ 18 tuổi trở lên, có đủ sức khỏe, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình.

Đề bài còn đưa ra tình tiết đó là việc A đã ký hợp đồng với công ty X về việc vận chuyển dầu máy. Như vậy, A đã được công ty X tín nhiệm giao cho việc chuyên chở dầu máy từ nơi nhận dầu chuyển đến kho của công ty. Tức là, A đã được giao cho chiếm hữu và quản lý một số lượng nhất định tài sản thuộc sở hữu của công ty X trong một khoảng thời gian. Cơ sở pháp lý của việc giao nhận dầu máy ở đây chính là hợp đồng dịch vụ vận chuyển. Việc giao và nhận dầu máy là hoàn toàn ngay thẳng.

Vậy A hoàn toàn có có đủ điều kiện chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 BLHS.

d)  Mặt chủ quan của tội phạm.

Mặt chủ quan của tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích vụ lợi nhằm chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của tội này, Nếu sau khi nhận được tài sản từ người khác, người có hành vi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn nhưng vì một lý do khách quan nào đó chứ không phải vì mục đích chiếm đoạt tài sản đó thì không cấu thành tội phạm này.

Tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà A thực hiện do lỗi cố ý, với mục đích là chiếm đoạt được tài sản của công ty X nhằm vụ lợi cho bản thân, cụ thể ở đây A đã chiếm đoạt được số dầu máy với tổng giá trị lên đến một trăm triệu đồng. Việc làm này của A hoàn toàn do A chủ động chứ hoàn toàn không có sự can thiệp, xúi giục hay bắt ép từ bất kì một người nào khác.

Kết luận: Trong tình huống bài đưa ra, tội danh xác định cho hành vi phạm tội của A là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 BLHS.

2. B có phải chịu trách nhiệm về hành vi tiêu thụ dầu của A không? Nếu có thì tội danh cho hành vi của B là gì?

          Theo dữ kiện bài cho thì B là người đã nhiều lần thu mua số dầu máy mà A mang đến. Như vậy, B là người đã tiêu thụ số tài sản do A phạm tội mà có. B sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tiêu thụ dầu của A. Tội danh xác lập cho hành vi của B đó là Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được quy định tại Điều 250 BLHS.

Khoản 1 Điều 250 quy định: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Như vậy, nếu căn cứ vào điều luật, có thể định nghĩa lại như sau: Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là hành vi của người biết rõ tài sản là do người khác phạm tội mà có tuy không hứa hẹn trước nhưng vẫn cất giữ, bảo quản, sử dụng, mua bán, trao đổi.

Trong tình huống này, do hành vi của A đã cấu thành tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nên hành vi của B cũng có đủ căn cứ cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 250 BLHS.

a) Về khách thể của tội phạm.

          Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong BLHS 1999 được xếp vào chương quy định về các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng và nó thuộc nhóm các tội xâm phạm trật tự công cộng. Cũng giống như các tội trong nhóm này thì hành vi phạm tội mà B thực hiện đã xâm phạm tới trật tự công cộng và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời nó còn gián tiếp đe dọa tới quan hệ sở hữu, hay nói cách khác đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản do người khác phạm tội mà có. Nó xâm phạm tới trật tự quản lý nhà nước đối với tài sản do người khác phạm tội mà có.

          Đối tượng của tội phạm này là tài sản do người khác phạm tội mà có. Do vậy, không cấu thành tội phạm này khi một người chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do một người chiếm đoạt được nhưng hành vi của họ không bị coi là cấu thành tội phạm. Ví dụ: H (12 tuổi) sang nhà hàng xóm, thấy có cọc tiền 10 triệu đồng liền lấy mang về đưa mẹ và kể rõ với mẹ. Mẹ của H đã lấy số tiền này tiêu xài, nhưng trong trường hợp này, hành vi của mẹ của H không bị coi là phạm tội chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có vì hành vi của A không cấu thành tội phạm do chưa thỏa mãn dấu hiệu chủ thể.

          Trở lại với trường hợp đề bài đưa ra, do hành vi của A có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại điều 140 BLHS, do đó, tài sản mà B tiêu thụ là tài sản do người khác phạm tội mà có. Khách thể của tội chứa chấp tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong trường hợp này đã thỏa mãn.

b) Mặt khách quan của tội phạm.

Hành vi khách quan của tội này thể hiện ở một trong 2 dạng sau:

–      Hành vi chứa chấp: là hành vi cất, giữ, giấy tài sản do người khác phạm tội mà có. Người phạm tội cất, giữ các tài sản này nhằm mục đích tiêu thụ. Đây là một dấy hiệu để phân biệt với tội che giấu tội phạm (điều 313 BLHS), bởi đối với tội che giấu tội phạm, mục đích của người phạm tội là nhằm ngăn cản các cơ quan tố tụng phát hiện tội phạm.

–      Hành vi tiêu thụ những tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có: là hành vi chuyển giao tài sản do người khác phạm tội mà có này dưới bất kỳ hình thức nào (bán, trao đổi, tặng, để cho sử dụng, cầm cố, …)

Hành vi này phải thoả mãn điều kiện là phải không có sự hứa hẹn trước, nếu có sự hứa hẹn trước sẽ trở thành đồng phạm về tội mà người có tài sản đã thực hiện.

          Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội có một trong hai hành vi nêu trên, không cần dấu hiệu hậu quả.

Theo như bài cho thì B là người thu mua dầu, khi A mang dầu tới bán cho B thì B đã mua. Đề bài không có nhắc tới việc B có biết về nguồn gốc của số dầu mà A bán cho hay không. Tuy nhiên, về mặt nguyên tắc, việc mua bán một số lượng dầu lớn dầu như vậy mỗi lần cần phải có hóa đơn chứng từ rõ ràng, chứng minh nguồn gốc của lô hàng theo quy định tại Khoản 4, Điều 17 Nghị định Số: 55/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 06/04/2007 quy định về việc kinh doanh xăng dầu: “Chỉ được mua, bán xăng dầu với các thương nhân trong hệ thống (trừ việc bán cho người tiêu dùng) và chịu trách nhiệm về chất lượng, số lượng, giá xăng dầu bán ra”. Trong trường hợp này nhận thấy, A không thuộc hệ thống kinh doanh xăng dầu mà B là thành viên.  Việc mua bán dầu giữa A và B không hề có bất cứ hóa đơn chứng từ nào. Do vậy, việc mua bán xăng dầu giữa B và A là hoàn toàn bất hợp pháp.

Nếu tạm bỏ qua các chi tiết đó mà chỉ quan tâm tới việc B có biết về hành vi phạm tội của A hay không và có hay không sự hứa hẹn trước giữa B và A trong việc mua tiêu thụ số dầu máy mà A đã lấy được trong quá trình vận chuyển hàng cho công ty X thì theo đề bài đưa ra, sau khi nhận được dầu, A chạy thẳng xe tới điểm thu mua dầu của B và bán dầu cho B. Có thể thấy rằng trước đó B phải có hành động công khai về việc mua dầu máy đối với mọi người có nhu cầu bán, nên A mới biết việc B có nhu cầu mua dầu máy, và đã nảy sinh lòng tham, chủ động mang số dầu mà A lấy được từ số dầu máy mà A nhận vận chuyển cho công ty X bán cho B nhằm vụ lợi cho bản thân. Giữa A và B không hề có sự hứa hẹn trước nào về việc mua bán này.

Vì hành vi mua bán giữa A và B được thực hiện nhiều lần và mỗi lần với số lượng dầu máy lớn như vậy, do đó B hoàn toàn có đủ sáng suốt để nhận biết được số dầu máy mà A mang đến bán cho mình có nguồn gốc không minh bạch, do phạm tội mà có. Tuy nhiên, B hoàn toàn không có ý định dừng việc mua bán dầu với A lại mà vẫn tiếp tục cho đến khi sự việc được phát giác.

Như vậy, về mặt khách quan của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì hành vi của B đã thỏa mãn.

c) Chủ thể của tội phạm.

Chủ thể của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được quy định tại Điều 250 BLHS có thể là bất kỳ ai đủ tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật định. Tuy nhiên, do đề bài không có đưa ra các chi tiết về B, nên mặc nhiên coi như B có đủ các điều kiện chủ thể của tội danh này.

d) Mặt chủ quan của tội phạm.

Mặt chủ quan của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích nhằm tiêu thụ tài sản là dấu hiệu pháp lý bắt buộc của tội này (nhằm phân biệt tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với tội che giấu tội phạm).

Hành vi phạm tội của B được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện qua việc mua bán nhiều lần đối với A, tổng trị giá số tiền mua bán các lần đó lên đến 100 triệu đồng. Như vậy, B biết về số dầu máy A mang tới là do phạm tội mà có, nhưng vẫn đồng ý mua, thậm chí mua nhiều lần và không hề có ý định dừng việc mua bán dầu với A lại cho đến khi vụ việc được phát giác.

Ở đây không yêu cầu B phải biết về rõ về A và hành vi phạm tội cụ thể của A. Việc mua bán dầu giữa A và B không có hóa đơn chứng từ rõ ràng, chứng tỏ đây là sự trao đổi, mua bán không minh bạch. A không có giấy tờ để chứng minh nguồn gốc của số dầu đã bán cho B, chứng tỏ A không phải là chủ sở hữu hợp pháp của số dầu máy này. B biết rõ điều này nhưng vẫn thực hiện hành vi mua bán dầu nhiều lần với A với tổng giá trị số dầu lên đến 100 triệu đồng. Như vậy hoàn toàn có thể kết luận hành vi phạm tội của B được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp.

Kết luận: Căn cứ vào các tình tiết đưa ra, các hành vi cụ thể của B đã có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được quy định tại Điều 250 BLHS và phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

  1. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, (tập I và tập II), Nxb. CAND, Hà Nội, 2009.
    2. Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật hình sự – Phần các tội phạm, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2007
    3. Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam (bình luận chuyên sâu), tập1 – 10, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.
    4. Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 (sửa đổi năm 2009).
    5. Lê Đăng Doanh, “Sự khác nhau giữa tội lừa đảo tài sản (Điều 139 BLHS) với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS)”, Tạp chí toà án nhân dân, tháng 11/2005.

  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: