Bài tập Học kỳ Luật Dân sự 2 – Năng lực chịu trách nhiệm BTTH của cá nhân theo quy định của pháp luật hiện hành – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn


MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ………………………………………………………………………..

2
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ…………………………………………………………….. 3

I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ……

  1. Khái niệm trách nhiệm BTTH.…………………………………
3
  1. Đặc điểm của trách nhiệm BTTH ……………………………
  2. Phân loại trách nhiệm BTTH căn cứ vào chủ thể thể chịu trách nhiệm………………………………………………………………………….
4
II. NĂNG LỰC CHỊU TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CÁ NHÂN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT…………………………………… 6
  1. Năng lực BTTH của người từ đủ 18 tuổi………………………..
6

2.      Năng lực BTTH của người chưa thành niên…………………….

7
2.1 Năng lực BTTH của người dưới 15 tuổi……………………. 7
2.2 Năng lực BTTH của người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi…. 9
  1. Năng lực BTTH của người được giám hộ……………………….
11
3.1 Trường hợp người được giám hộ là người chưa thành niên gây thiệt hại… 11
3.2 Trường hợp người được giám hộ là người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác………………………………………………….. 13
III. MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ NĂNG LỰC TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CÁ NHÂN 15
  1. Tình huống thứ nhất……………………………………………………………
  2. Tình huống thứ hai…………………………………………………………….
  3. Tình huống thứ ba……………………………………………………………..
15
IV. KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT…………………………………………………………………………
KẾT LUẬN…………………………………………………………………………..DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………..

BÀI LÀM

I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI.

1. Khái niệm về trách nhiệm BTTH.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì trách nhiệm BTTH được BLDS 2005 quy định tại Điều 307 về trách nhiệm BTTH nói chung và chương XXI về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái niệm trách nhiệm BTTH mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi thường…

Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗi người sống trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là BTTH (BTTH).

Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm Dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.

2.     Đặc điểm của trách nhiệm BTTH.

Là một loại trách nhiệm pháp lý nên ngoài những đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung như do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước…. thì trách nhiệm BTTH còn có những đặc điểm riêng sau đây:

Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm Dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự. Khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì họ phải BTTH và BTTH chính là một quan hệ tài sản do Luật Dân sự điều chỉnh và được quy định trong BLDS ở Điều 307 và Chương XXI và các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS.

– Về điều kiện phát sinh: trách nhiệm BTTH chỉ đặt ra khi thoả mãn các điều kiện nhất định đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự (nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng), có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại (không phải là điều kiện bắt buộc). Đây là những điều kiện chung nhất để xác định trách nhiệm của một người phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt trách nhiệm BTTH có thể phát sinh khi không có đủ các điều kiện trên điển hình là các trường hợp BTTH do tài sản gây ra.

– Về hậu quả: trách nhiệm BTTH luôn mang đến một hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại. Bởi lẽ, khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì tổn thất đó phải tính toán được bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy định là một đại lượng vật chất nhất định nếu không sẽ không thể thực hiện được việc bồi thường. Do đó, những thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại. Và cũng chính vì vậy, thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục lại thiệt hại cho người bị thiệt hại.

– Về chủ thể bị áp dụng trách nhiệm: Ngoài người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại thì trách nhiệm BTTH còn được áp dụng cả đối với những chủ thể khác đó là cha, mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ của người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân gây ra thiệt hại, trường học, bệnh viện trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại hoặc tổ chức khác như cơ sở dạy nghề…

3. Phân loại trách nhiệm BTTH căn cứ vào chủ thể chịu trách nhiệm.

Căn cứ vào chủ thể chịu trách nhiệm, trách nhiệm BTTH được phân loại thành trách nhiệm BTTH của cá nhân, trách nhiệm BTTH của pháp nhân, các tổ chức khác và trách nhiệm bồi thường Nhà nước.

–         Trách nhiệm BTTH pháp nhân và các tổ chức khác được hiểu là trách nhiệm dân sự phát sinh cho pháp nhân hoặc các tổ chức khác trong trường hợp người của pháp nhân và các tổ chức gây thiệt hại trong khi thực hiện nhiệm vụ pháp nhân hoặc tổ chức giao cho. Đối với trường hợp người của pháp nhân hoặc tổ chức gây thiệt hại trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao do đó hành vi của họ được hiểu là hành vi của pháp nhân chính vì vậy theo quy định của pháp luật dân sự (Điều 618, 619, 620, 621) thì trách nhiệm trước hết thuộc về pháp nhân, tổ chức. Sau khi người có trách nhiệm bồi thường đã thực hiện xong thì nếu người gây thiệt hại có lỗi sẽ làm phát sinh nghĩa vụ hoàn lại của người có hành vi gây thiệt hại cho pháp nhân, tổ chức đó.

–         Trách nhiệm bồi thường Nhà nước được hiểu là khi cán bộ, công chức gây thiệt hại thuộc phạm vi bồi thường Nhà nước thì Nhà nước phải BTTH cho người bị thiệt hại chứ không phải chính cán bộ công chức hay cơ quan quản lý cán bộ công chức phải bồi thường. Nếu là trách nhiệm Nhà nước thì sẽ bị giới hạn phạm vi áp dụng do đặc thù Nhà nước là một chủ thể đặc biệt thực hiện việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội; tiền bồi thường thuộc ngân sách Nhà nước do đó việc thực hiện trình tự, thủ tục bồi thường cũng không giống với trách nhiệm BTTH thông thường và được điều chỉnh bởi Luật Bồi thường Nhà nước.

–         Trách nhiệm BTTH của cá nhân được hiểu là trách nhiệm dân sự mà theo đó thì trách nhiệm BTTH thuộc về cá nhân người gây thiệt hại hoặc đại diện theo pháp luật của người đó như cha mẹ, người giám hộ.

Trong ba loại trách nhiệm BTTH trên, trường hợp trách nhiệm BTTH của pháp nhân, tổ chức và Nhà nước thì vấn đề năng lực chịu trách nhiệm BTTH là không cần xét đến bởi đương nhiên chủ thể chịu trách nhiệm được xem là thỏa mãn mọi điều kiện để thực hiện nghĩa vụ của mình. Trong khi đó, cá nhân, một chủ thể cơ bản của quan hệ pháp luật dân sự thì không phải lúc nào gây thiệt hại cũng có khả năng để thực hiện việc bồi thường. Đây chính là lý do vì sao BLDS quy định về năng lực BTTH của cá nhân, không quy định năng lực chịu trách nhiệm BTTH của các chủ thể khác.

II.  NĂNG LỰC CHỊU TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CÁ NHÂN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT.

Người gây thiệt hại có thể là bất kỳ ai: cá nhân, pháp nhân, cơ quan Nhà nước… nhưng việc bồi thường phải do người có “khả năng” bồi thường, mặc dù hành vi gây thiệt hại có thể không do chính họ thực hiện. Bộ luật dân sự chỉ quy định về năng lực chịu trách nhiệm BTTH của cá nhân mà không quy định về năng lực bồi thường của các chủ thể khác. Năng lực BTTH của cá nhân theo pháp luật hiện hành được quy định tại Điều 606 BLDS 2005 và hướng dẫn tại tiểu mục 3 mục I Nghị quyết 03/2006/HĐTP – TANDTC ngày 08/07/2006 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao dựa trên mức độ năng lực hành vi, tình trạng tài sản, khả năng bồi thường của cá nhân để xác định cá nhân gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại theo các mức độ năng lực hành vi dân sự khác nhau. Pháp luật căn cứ và những điều kiện về độ tuổi và sự phát triển của trí tuệ, nhận thức; căn cứ và khả năng tạo lập tài sản của cá nhân để có cơ sở xác định trong trường hợp cá nhân khi gây thiệt hại cho người khác thì trách nhiệm bồi thường được thực hiện với những mức độ nào.

1.     Năng lực BTTH của người từ đủ 18 tuổi.

Người tử đủ 18 tuổi trở lên theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 là người thành niên (Điều 18) và người thành niên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nếu không rơi vào các trường hợp bị Tòa án tuyên là mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị tuyên là hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 23). Theo những quy định này thì khi một người đủ 18 tuổi họ có đầy đủ tư cách chủ thể để bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự, có nghĩa là họ có toàn quyền tham gia các quan hệ dân sự với tư cách là một chủ thể độc lập và tự chịu trách nhiệm về những hành vi do mình thực hiện. Như vậy, người từ đủ 18 tuổi nếu không bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác có ảnh hưởng đến năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi của mình hoặc không bị tòa án tuyên là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì phải chịu trách nhiệm BTTH về những thiệt hại mà mình đã gây ra cho người khác. Khẳng định này được ghi nhận tại khoản 1 Điều 606 “Người từ đủ 18 tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường”. Theo quy định này khi gây ra thiệt hại thì trách nhiệm chính về việc bồi thường là của chính người đã gây ra thiệt hại.

Việc quy định trách nhiệm BTTH do người từ đủ 18 tuổi gây ra là trách nhiệm của họ là hoàn toàn hợp lý và phù hợp với các quy định hiện hành của pháp luật. Người từ đủ 18 tuổi là người đã thành niên và có đủ điều kiện tham gia vào các quan hệ pháp luật do vậy, họ hoàn toàn đủ năng lực để tham gia và trở thành chủ thể của quan hệ BTTH và nếu là người gây ra thiệt hại thì họ hoàn toàn có đủ năng lực để thực hiện trách nhiệm bồi thường. Ở độ tuổi này họ đã có đầy đủ năng lực tham gia vào các quan hệ lao động nên xét trên một bình diện chung nhất thì những người này đã có thu nhập và cũng có khả năng tạo ra thu nhập để thực hiện nghĩa vụ của mình.

2.     Năng lực BTTH của người chưa thành niên

Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi theo quy định của pháp luật thì đây là những người hoặc chưa có năng lực hành vi dân sự (người dưới 6 tuổi) hoặc chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ hay nói cách khác là chỉ có năng lực hành vi dân sự một phần (người từ đủ 6 đến dưới 18 tuổi). Những người này không có hoặc không đủ năng lực để tham gia vào quan hệ BTTH dù rằng thiệt hại đó là do bản thân họ gây. Trong độ tuổi này các chủ thể chưa có khả năng nhận thức hoặc chưa nhận thức một cách đầy đủ và chính xác về những việc mình đã làm cũng như chưa nhận thức được một cách sâu sắc về những thiệt hại có thể xảy ra do hành vi của mình. Do vậy, nếu những người này gây ra thiệt hại thì phải có người đứng ra đại diện cho họ để thực hiện nghĩa vụ bồi thường.

Mặc dù cùng nằm trong nhóm tuổi người chưa thành niên nhưng việc quy định về trách nhiệm BTTH do người dưới 18 tuổi gây ra lại không giống nhau trong mọi trường hợp. Trong nhóm tuổi này việc quy định trách nhiệm BTTH có sự phân biệt giữa hai độ tuổi khác nhau là người chưa thành niên dưới 15 tuổi và người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi.

2.1.         Năng lực BTTH của người dưới 15 tuổi

Như đã nói ở trên, người chưa thành niên dưới 15 tuổi là người chưa có năng lực hành vi dân sự (dưới 6 tuổi) hoặc năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ (từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi). Về nguyên tắc thì những người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây ra thiệt hại và người chưa thành niên đó còn cha mẹ thì cha mẹ buộc phải bồi thường toàn bộ thiệt hại và tham gia tố tụng dân sự với tư cách là bị đơn. Trong trường hợp này thì người có trách nhiệm chính và chủ yếu phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường chính là cha, mẹ của người đã gây ra thiệt hại, vì theo quy định của pháp luật “người chưa thành niên từ đủ 6 đến chưa đủ 18 tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ trường hợp giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác” (Điều 20 khoản 1 BLDS 2005) còn “người chưa đủ 6 tuổi không có năng lực hành vi dân sự. Giao dịch dân sự của người chưa đủ 6 tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện” (Điều 21 BLDS 2005). Những người chưa thành niên dưới 15 tuổi không những chưa có năng lực hành vi dân sự và năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ mà những người này còn chưa có năng lực hành vi lao động để tham gia vào các quan hệ lao động để tạo ra thu nhập và có tài sản riêng. Vì vậy, phần lớn những người nằm trong độ tuổi này không có tài sản và khả năng kinh tế độc lập để tự chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại do mình gây ra. Việc quy định trách nhiệm BTTH thuộc về cha, mẹ của người gây ra thiệt hại được quy định rõ tại khoản 2 Điều 606 BLDS 2005 “Người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha mẹ thì cha mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại”.

Nghiên cứu về năng lực BTTH của người chưa thành niên dưới 15 tuổi ngoài việc pháp luật quy định trách nhiệm BTTH thuộc về cha mẹ của người gây thiệt hại thì tại khoản 2 Điều 606 Bộ luật Dân sự 2005 cũng quy định “nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu”. Về nguyên tắc người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thuộc về cha, mẹ của người đã gây ra thiệt hại. Việc pháp luật quy định cho phép cha, mẹ có thể dùng tài sản của con chưa thành niên để bồi thường phần còn thiếu là nhằm mục đích thực hiện nguyên tắc BTTH phải “toàn bộ và kịp thời” để đảm bảo quyền lợi cho người bị thiệt hại, bởi trong nhiều trường hợp người chưa thành niên tuy chưa tự làm được ra tài sản nhưng lại được thừa kế, được tặng cho tài sản. Và việc cho phép cha, mẹ của người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại được phép lấy tài sản của con họ để bù vào phần bồi thường còn thiếu không có nghĩa người chưa thành niên phải “liên đới” cùng cha, mẹ để BTTH.

Việc người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại thì không phải trong mọi trường hợp cha, mẹ của người gây ra thiệt hại đều phải chịu trách nhiệm bồi thường, đó là trường hợp “người dưới 15 tuổi trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại thì trường học phải BTTH xảy ra” (khoản 1 Điều 621). Thời gian mà ngươi dưới 15 tuổi học tại trường học chính là thời gian mà theo quy định của nghề nghiệp trường học phải có trách nhiệm quản lý, giáo dục người chưa thành niên dưới 15 tuổi, do vậy trong thời gian người dưới 15 tuổi học tại trường học mà gây ra thiệt hại thì nhà trường sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường vì nhà trường đã không hoàn thành nhiệm vụ của mình trong việc quản lý và giáo dục học sinh. Tuy nhiên, nếu trường học chứng minh được mình không có lỗi trong việc quản lý và trong việc để thiệt hại xảy ra thì trường học sẽ không phải bồi thường và trong trường hợp này thì cha, mẹ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên sẽ phải chịu trách nhiệm BTTH..

2.2.         Năng lực BTTH của người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi

Người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi cũng là người trong độ tuổi chưa thành niên, nhưng khi quyết định trách nhiệm BTTH thì đây lại là một trường hợp đặc biệt đối với người chưa thành niên. Sở dĩ như vậy là vì tuy trong cùng độ tuổi chưa thành niên nhưng việc quy định trách nhiệm BTTH của người dưới 15 tuổi lại khác với người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi. Người dưới 15 tuổi nếu gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường sẽ thuộc về cha, mẹ của họ, pháp luật quy định rõ ràng “Cha mẹ phải BTTH” nhưng người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi mà gây thiệt hại thì pháp luật quy định “Phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha mẹ phải bồi thường bằng tài sản của mình”. Như vậy, trong trường hợp này trách nhiệm chính lại thuộc về người gây thiệt hại mà không phải cha, mẹ của họ. Chỉ khi nào người gây thiệt hại không đủ tài sản để bồi thường thì mới làm phát sinh trách nhiệm của cha, mẹ họ.

Trách nhiệm BTTH của người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi dường như ngược hẳn với trách nhiệm BTTH do người dưới 15 tuổi gây ra. Lý do để pháp luật quy định trách nhiệm BTTH cho người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi như vậy là vì: Mặc dù ở trong độ tuổi chưa thành niên chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nhưng so với người dưới 15 tuổi về mặt nhận thức họ đã phát triển hơn, mặt khác, người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi theo quy định của luật Lao động đã có thể tham gia vào quan hệ pháp luật lao động. Chính vì vậy họ có thể phát sinh thu nhập và có tài sản riêng, nên có thể thực hiện trách nhiệm BTTH của mình.

Mặc dù quy định trách nhiệm chính thuộc về người gây thiệt hại, nhưng xét về mặt năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì họ chưa có, nên họ cần phải có người đại diện cho mình trong việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự. Do vậy, cha mẹ của người gây thiệt hại vẫn không thể loại trừ hoàn toàn trách nhiệm của mình. Họ có nghĩa vụ phải BTTH cho con mình khi nó gây ra thiệt hại cho người khác mà không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường.

Việc quy định trách nhiệm BTTH do người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây ra là trách nhiệm chính và chủ yếu của người gây ra thiệt hại và nếu người gây ra thiệt hại không đủ hoặc không có tài sản để bồi thường thì cha mẹ phải bồi thường bằng tài sản của mình (nghĩa vụ bắt buộc của cha, mẹ) sẽ xác định được một cách cụ thể trách nhiệm là của ai trong trường hợp khi tòa án quyết định trách nhiệm BTTH thì cả người gây thiệt hại và cha, mẹ của họ cũng không có tài sản để thực hiện nghĩa vụ bồi thường. Nếu xảy ra trường hợp này thì chính người chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây ra thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường khi có tài sản vì trách nhiệm bồi thường đầu tiên thuộc về họ. Tuy nhiên theo quy định của Điều 606 khoản 2 vì nghĩa vụ BTTH phần còn thiếu của người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 của cha mẹ là nghĩa vụ bắt buộc nên nếu hiện tại cả con họ và họ không đủ tài sản để bồi thường thì sau này ai là người có tài sản trước thì sẽ lấy tài sản đó để bồi thường cho người bị thiệt hại để đảm bảo một cách tốt nhất quyền lợi cho người bị hại.

3.      Năng lực BTTH của người được giám hộ

Giám hộ là một vấn đề có ý nghĩa thiết thực trong đời sống xã hội. Bộ luật dân sự 2005 của nước ta quy định khá đầy đủ và chi tiết về: đối tượng được giám hộ, người giám hộ, quyền và nghĩa vụ của người giám hộ. Song một nghĩa vụ quan trọng của người giám hộ là trách nhiệm BTTH về tài sản do hành vi trái pháp luật của người được giám hộ gây ra lại không được quy định trong phần này. Có phải trong mọi trường hợp người giám hộ cũng đều có trách nhiệm BTTH về tài sản do người mà mình giám hộ gây ra không? Và cách thức bồi thường như thế nào?

Điều 58 của BLDS 2005 quy định “ Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ)”. Như vậy, giám hộ là một hình thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi dân sự. Người giám hộ phải đáp ứng đủ những điều kiện nhất định và phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo luật định để bảo vệ quyền lợi cho người được giám hộ, đồng thời họ cũng có thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về tài sản trong khi thực hiện việc giám hộ của mình trong đó có trách nhiệm BTTH do hành vi trái pháp luật của người mà mình giám hộ gây ra cho người khác.

3.1.         Trường hợp người được giám hộ là người chưa thành niên gây thiệt hại

Theo quy định của pháp luật thì “người chưa thành niên mà không còn cha mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không đủ điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu” (điểm a khoản 2 Điều 58 BLDS) thì cần có người giám hộ. Do vậy, với người chưa thành niên vẫn còn cha, mẹ và cha, mẹ của họ không rơi vào các trường hợp nêu trên thì đương nhiên họ là đại diện của con họ và thiệt hại do người chưa thành niên gây ra họ sẽ và phải bồi thường.

Trong trường hợp cha mẹ của người chưa thành niên rơi vào các trường hợp nêu ở điểm a khoản 2 điều 58 BLDS 2005 thì trách nhiệm BTTH sẽ được thực hiện như sau:

Trước hết là trách nhiệm của anh cả, chị cả đã thành niên đủ điều kiện để làm người giám hộ. Nếu anh cả, chị cả không đủ điều kiện để làm người giám hộ thì người tiếp theo đã thành niên phải làm người giám hộ. Trong trường hợp không có anh, chị hoặc anh, chị không đủ điều kiện để làm người giám hộ thì ông, bà nội, ông, bà ngoại là người giám hộ. Nếu những người nêu trên không có hoặc không đủ điều kiện để làm người giám hộ thì bác, chú, cậu, cô, dì là người giám hộ. Tất cả những người nêu trên là người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên. Và nếu không có người làm giám hộ đương nhiên thì sẽ phải cử giám hộ. Tuy nhiên, dù là giám hộ đương nhiên hay là giám hộ cử thì đều có quyền dùng tài sản riêng của người được giám hộ để BTTH do hành vi trái pháp luật của người được giám hộ gây ra, chỉ trong trường hợp người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải lấy tài sản của mình để bồi thường. Cho phép người giám hộ được sử dụng tài sản của người được giám hộ để bồi thường nếu người giám hộ gây ra thiệt hại phải chăng là nhằm khuyến khích hoạt động giám hộ, đặc biệt là đối với giám hộ cử. Và việc quy định cho người giám hộ trước tiên được sử dụng tài sản của người được giám hộ để bồi thường là một điểm khác biệt so với BTTH do người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây ra mà còn cha mẹ, trường hợp này trách nhiệm đầu tiên và trách nhiệm chính là thuộc về cha, mẹ của người chưa thành niên dưới 15 tuổi. BTTH do người chưa thành niên được giám hộ gây ra lại gần giống với trường hợp người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại nhưng khác một điểm là trong trường hợp người được giám hộ gây thiệt hại thì trách nhiệm thuộc về người giám hộ còn người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi mà gây thiệt hại thì trách nhiệm chính đầu tiên thuộc về họ, sau đó nếu họ không đủ tài sản để bồi thường thì mới lấy tài sản của cha, mẹ họ.

3.2.         Trường hợp người được giám hộ là người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác

Mất năng lực hành vi dân sự là “khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định” (Điều 22 BLDS 2005). Theo quy định của điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều 58 của Bộ luật Dân sự thì người mất năng lực hành vi dân sự là người cần phải có người giám hộ, người giám hộ sẽ là người đại diện cho họ trong các giao dịch dân sự. Người mất năng lực hành vi dân sự có thể là bất kỳ ai và ở bất kỳ độ tuổi nào, do vậy mà tuỳ từng trường hợp khác nhau mà việc quy định BTTH do người được giám hộ là người mất năng lực hành vi dân sự gây ra cũng khác nhau. Và việc quy định trách nhiệm BTTH do người mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam được quy định như sau:

Nếu người mất năng lực hành vi dân sự là người chưa thành niên mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ chính là người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự, họ có trách nhiệm phải chăm sóc và quản lý người mất năng lực hành vi dân sự. Trong quá trình chăm sóc và quản lý người mất năng lực hành vi dân sự mà để những người này gây thiệt hại về tài sản cho người khác thì họ phải có trách nhiệm bồi thường bằng tài sản của mình. Vì là cha, mẹ của người mất năng lực hành vi dân sự nên trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này được tiến hành như trường hợp người chưa thành niên gây thiệt hại mà còn cha mẹ.

Trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự đã có vợ (hoặc có chồng) thì người vợ (hoặc chồng) có đủ điều kiện sẽ phải làm người giám hộ (khoản 1 Điều 62 BLDS 2005). Ở trong trường hợp này, người giám hộ được lấy tài sản của người được giám hộ để thực hiện trách nhiệm BTTH. Nếu như tài sản hiÖn cã của người được giám hộ không đủ để bồi thường thì phải phân định tài sản chung của vợ chồng sau đó mới xác định trách nhiệm bồi thường. Sau khi phân tài sản chung rồi mà tải sản của người được giám hộ vẫn không đủ để bồi thường thì người giám hộ mới phải lấy tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ bồi thường phần còn thiếu.

Trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự là người đã thành niên và đã có vợ, chồng, con nhưng vợ, chồng, con đều không đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ có đủ điều kiện phải làm người giám hộ cho họ. Nếu họ gây thiệt hại về tài sản cho người khác thì cha, mẹ sẽ lấy tài sản riêng của người được giám hộ để thực hiện trách nhiệm BTTH và nếu tài sản đó không đủ để bồi thường thì người giám hộ mới phải lấy tài sản của mình để bồi thường. Xác định trách nhiệm bồi thường nốt phần còn thiếu do thiệt hại của người được giám hộ gây ra của người giám hộ ở đây cần phải phân làm hai trường hợp: Nếu cả cha cha, mẹ cùng là người giám hộ thì sẽ lấy tài sản chung vợ chồng của cha, mẹ để thực hiện nghĩa vụ bồi thường phần còn thiếu cho người được giám hộ; nếu chỉ có cha hoặc mẹ làm người giám hộ thì sẽ không lấy tài sản chung mà lấy phần tài sản riêng trong khối tài sản chung của vợ chồng để thực hiện nghĩa vụ bồi thường phần còn thiếu của người được giám hộ.

Người mất năng lực hành vi dân sự nếu gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện hay tổ chức khác quản lý thì tổ chức, bệnh viện phải có trách nhiệm BTTH mà không phải là người giám hộ (Điều 621 khoản 2 BLDS 2005). Bệnh viện và tổ chức có trách nhiệm phải bồi thường vì họ đã không thực hiện tốt chức năng quản lý của mình đã để người mất năng lực hành vi dân sự do mình đang quản lý gây thiệt hại. Tuy nhiên cũng theo quy định của Điều 621 của BLDS 2005 tại khoản 3 bệnh viện và các tổ chức này chứng minh được mình không có lỗi trong việc quản lý thì có thể giải trừ được trách nhiệm BTTH của mình và cha, mẹ, người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự phải BTTH.

III. MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ NĂNG LỰC TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CÁ NHÂN

  1. 1.     BTTH trong trường  hợp người từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng chưa có khả năng tài chính.

Tình huống: A là sinh viên một trường ĐH ở Hà Nội (19 tuổi). Trong một lần đi mua sắm tại siêu thị big C, A vào dãy hàng thủy tinh để chọn lọ hoa. Do vô ý dựa vào giá để đồ, A đã làm đổ vỡ một số lọ hoa thủy tinh, tổng thiệt hại lên tới 20 triệu đồng. Đại diện siêu thị yêu cầu A phải BTTH. Tuy nhiên, A là sinh viên đang phải sống và học tập nhờ tiền trợ cấp hàng tháng từ gia đình nên việc có được khoản tiền 20 triệu đồng trong một thời gian ngắn để bồi thường cho siêu thị big C là không thể.

Bất cập:  Theo quy định tại điều 606 BLDS thì người từ đủ 18 tuổi trở lên, không tâm thần, không mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình khi gây thiệt hại cho người khác thì phải tự bồi thường bằng tài sản của mình. Xác định trách nhiệm chính thuộc về người gây thiệt hại (từ đủ 18 tuổi) có nghĩa là dù người gây thiệt hại bị rơi vào tình trạng tài sản như thế nào đi nữa thì cũng không thể loại trừ được nghĩa vụ của mình. Có rất nhiều trường hợp sau khi gây ra thiệt hại và phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì người gây ra thiệt hại lại không có tài sản để thực hiện nghĩa vụ của mình, nhưng đây là trách nhiệm của họ nên không thể chuyển giao cho người khác và người khác cũng không có nghĩa vụ phải thực hiện thay cho họ (trừ trường hợp người nhà của họ hoặc có người khác tự nguyện thay họ thực hiện trách nhiệm BTTH). Nhưng xét về thực tế ở Việt Nam hiện nay, những cá nhân có đủ năng lực hành vi dân sự và tố tụng dân sự có một phần không nhỏ còn đang theo học tại các cấp đào tạo nghề, cao đẳng, đại học và trung cấp mà phần lớn trong số họ vẫn được bố mẹ chu cấp tiền ăn, học, ở và các chi phí khác phục vụ cho việc học tập như trong tình huống trên của A. Những người ở độ tuổi từ đủ 18 tuổi trở lên, còn đi học, chưa có việc làm và chưa có thu nhập, do vậy nếu người gây thiệt hại tại thời điểm hiện tại không có khả năng về tài sản để thực thi nghĩa vụ của mình thì nghĩa vụ này sẽ phải tiếp tục thực hiện sau khi họ có tài sản. Nhưng một vấn đề được đặt ra là nguyên tắc của BTTH là phải bồi thường kịp thời và toàn bộ, mục đích của nguyên tắc này là nhằm bảo đảm quyền lợi cho người bị thiệt hại, là nhằm làm sao để khắc phục một cách nhanh chóng và kịp thời thiệt hại đã xảy ra. Vậy nếu người gây ra thiệt hại không có đủ khả năng tài chính để bồi thường thì nguyên tắc này cũng khó mà thực hiện được. Và nếu như tình trạng này của người gây thiệt hại cứ kéo dài mãi thì đâu là giải pháp tốt nhất để đảm bảo quyền lợi cho người bị thiệt hại?

  1. 2.     Bồi thường trong trường hợp người giám hộ chứng minh mình không có lỗi trong việc giám hộ.

Tình huống: B 16 tuổi, mồ côi cha mẹ từ bé, sống cùng gia đình cô ruột là chị C. Theo đó, chị C được cử làm giám hộ cho B đến đủ 18 tuổi. Mặc dù chưa đủ tuổi lái xe máy nhưng B thường xuyên điều khiển xe máy của nhà bạn để đi học và đi chơi. Biết được điều này, chị C đã khuyên bảo, nhắc nhở và còn cảnh cáo B rất nhiều về việc làm sai trái và những hậu quả có thể xảy ra nhưng B đã lờ đi không nghe. Một lần, B đã nói dối chị C đi học và đã điều khiển xe máy lai hai người bạn khác đi chơi, do phóng nhanh không kịp quan sát, B đã đâm vào một cụ P làm cụ bị thương, tổng chi phí chữa trị là 7 triệu đồng. Trong trường hợp này, chị C đã thực hiện hết khả năng trong việc giáo dục B về hành vi sai trái nhưng B vẫn cố tình và còn lừa dối chị để thực hiện vì thế chị C cho rằng mình không có lỗi về hậu quả do B gây ra và vì thế không phải chịu trách nhiệm BTTH cho cụ P . Vậy xác định trách nhiệm BTTH trong tình huống này ra sao?

 

Bất cập:  Khoản 3 Điều 606 quy định rõ người giám hộ có thể giải trừ trách nhiệm của mình bằng cách chứng minh mình không có lỗi trong việc giám hộ: “nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình ra để bồi thường” . Vậy trong trường hợp này trách nhiệm bồi thường sẽ thuộc về ai? Điều này pháp luật không có quy định cho nên phải áp dụng nguyên tắc chung là: Nếu người được giám hộ là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì trách nhiệm bồi thường thuộc về người được giám hộ; Nếu người được giám hộ là người dưới 15 tuổi thì không ai phải bồi thường. Như vậy, tình huống trên B là người phải chịu trách nhiệm BTTH cho cụ P. Tuy nhiên B đang sống phụ thuộc vào sự chu cấp của chị C, liệu rằng khả năng B chi trả viện phí cho cụ P có thể thực hiện trên thực tế hay không? Thêm vào đó,giả sử trường hợp B chưa đủ 15 tuổi thì không phải bồi thường. Một lẽ đương nhiên lúc này người bị gây thiệt hại là cụ P lại phải chịu rủi ro rất lớn là không được bồi thường. Vậy pháp luật quy định như vậy liệu rằng có thật sự thỏa đáng?

  1. 3.     Trường hợp người dưới 15 tuổi gây thiệt hại do bị xúi giục.

Tình huống: A và B là hàng xóm của nhau, cùng chăn vịt trên một cánh đồng và thường xuyên có xích mích nhau. Cạnh nhà A là nhà cháu D (8 tuổi), do bố mẹ D hay đi vắng nên thường nhờ A trông D, có khi còn để D ăn cơm và ngủ tại nhà A. Trong một lần được bố mẹ D nhờ trông nom cháu, A đã xui D lẻn qua nhà B ở ngay cạnh đó, mở cửa chuồng trâu nhà B làm đàn trâu lục tục bỏ ra ngoài đường. Khi B ra đồng về phát hiện đàn trâu bị mất, B đã tìm khắp nơi nhưng vẫn còn không thể thấy 1 con trâu đực trưởng thành trị giá 3 triệu đồng. B phát hiện trong chuồng trâu của nhà mình có dấu vết dép của D, lại thêm chiếc khuy áo khoác mà B biết rõ là của D. Sau khi tra hỏi, D đã thừa nhận hành vi của mình và nói rõ lý do là A xui. Trong trường xác định trách nhiệm bồi thường như thế nào?

Bất cập: Về nguyên tắc người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thuộc về cha, mẹ của người đã gây ra thiệt hại. Việc quy định trách nhiệm BTTH thuộc về cha, mẹ của người gây ra thiệt hại được quy định rõ tại khoản 2 Điều 606 BLDS 2005 “Người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha mẹ thì cha mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại”. Tuy nhiên, trong trường hợp cụ thể ở trên có thể thấy, hành vi của D là sự hiện thực hóa mong muốn của A để trả đũa B do những xích mích giữa hai người. Xét về lỗi không quản lý con của bố mẹ D ở đây cũng không hoàn toàn hợp lý do họ đã gửi nhờ một người lớn là A trông nom hộ, mà lỗi ở đây phải là của A. Nhưng quy định của luật không hề đặt ra quyền chứng minh mình không có lỗi đối với cha mẹ của người chưa thành niên gây thiệt hại để loại trừ trách nhiệm bồi thường nếu con họ gây thiệt hại do bị người khác xúi giục. Như vậy, hành vi của D thỏa mãn mong muốn của A và gây thiệt hại về tài sản đối với B nhưng trách nhiệm bồi thường thiệt hại lại thuộc về bố mẹ D liệu có thực sự hợp tình hợp lý?

III. KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT.

Việc giải quyết chưa thỏa đáng những tình huống thực tế xảy ra ở trên chỉ là một vài những bất cập trong số những tình huống mà quy định của pháp luật chưa thể dự liệu hết được. Chính vì vậy, việc đặt ra các giả thiết và tìm giải pháp thích đáng sao cho luật đi vào đời sống vừa hợp tình vừa hợp lý là điều cần thiết. Từ chính những tình huống trên, em xin kiến nghị một số giải pháp để khắc phục sự thiếu sót của luật như sau:

–         Với tình huống thứ nhất về trường hợp người gây thiệt hại trên 18 tuổi nhưng chưa đủ khả năng về tài chính: Khi quyết định trách nhiệm bồi thương đối với trường hợp này, nên động viên người thân của những người này thay họ đứng ra thực hiện trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, việc này phải dựa trên tinh thần tự nguyện của họ, cơ quan thẩm quyền không được ép buộc. Trường hợp người thân không đồng ý hoặc cũng không đủ khả năng thực hiện thay, trách nhiệm bồi thường có thể xem như khoản nợ của người gây thiệt hại với người bị thiệt hại. Theo đó, khi có tài sản, người gây thiệt hại phải trả cho người bị thiệt hại toàn bộ thiệt hại gây nên và cả thiệt hại do bồi thường chậm trễ (có thể là tiền lãi) theo thỏa thuận hoặc quyết định của Tòa án.

–          Tình huống thứ hai khi người chưa thành niên gây thiệt hại mà người giám hộ được loại trừ trách nhiệm BTTH do chứng minh không có lỗi, bên cạnh đó người chưa thành niên gây thiệt hại không có tài sản: Theo như tinh thần giải quyết tình huống trên, có thể quy định rõ hơn trong Khoản 3 Điều 606 BLDS: …trường hợp người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường, lúc này, nếu người gây thiệt hại không có tài sản để bồi thường thì trách nhiệm BTTH được chuyển thành khoản nợ của người gây thiệt hại với người bị thiệt hại. Khi có tài sản, người gây thiệt hại phải trả cho người bị thiệt hại toàn bộ thiệt hại gây nên và cả thiệt hại do bồi thường chậm trễ (có thể là tiền lãi) theo thỏa thuận hoặc quyết định của Tòa án.”

–         Tình huống thứ ba khi người chưa thành niên gây thiệt hại do có người xúi  giục: Ở đây, trước hết phải khẳng định lỗi là do người gây xúi giục. Vì vậy, khi xác định trách nhiệm BTTH cần cho phép cha mẹ được quyền chứng minh lỗi của người xúi giục để loại bỏ trách nhiệm BTTH khi mình không có lỗi cũng như quy kết trách nhiệm cho người xúi giục. Điều này bao quát cả trường hợp chính cha mẹ là người xúi giục, họ vẫn sẽ chịu trách nhiệm BTTH, tuy nhiên với vai trò là người xúi giục.

 

  1. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Trường Đại Học Luật Hà Nội, TS.Lê Đình Nghị (chủ biên), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam

    2. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, tập 2, NXB CAND, Hà Nội 2009

    3. Phùng Trung Tập, Cần hoàn thiện chế định BTTH ngoài hợp đồng trong dự thảo BLDS (sửa đổi), (Tạp chí nhà nước và pháp luật số 4/2005, tr 28 – 55)

    4. Phùng Trung Tập, Yếu tố lỗi trong trách nhiệm liên đới BTTH ngoài hợp đồng, (Tạp chí luật học số 5/1997, tr 23)

    5. Phùng Trung Tập, Lỗi và trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, (Tạp chí Tòa án nhân dân số 5/2004, số 10, tr 2 – 5)

    6. Nguyễn Minh Tuấn, Trách nhiệm liên đới BTTH ngoài hợp đồng do người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây ra, (Tạp chí luật học số 3/2002, tr 53 – 59)

    7. Tưởng Duy Lượng, Pháp luật Dân sự và thực tiễn xét xử, NXB CTQG, Hà Nội 2009

    8. Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2005

    9. Các website:

    o http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com

    o http://vietnamese-law-consultancy.com/

    o http://thongtinphapluatdansu.blogspot.com/

    o http://www.gocluatsu.com

    o http://www.hanoimoi.com.vn/

  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: