Bài tập học kỳ Luật Dân sự 2 – Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân


ĐẶT VẤN ĐỀ

Thực tiễn đời sống hàng ngày của chúng ta xảy ra rất nhiều các thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân  phẩm của công dân, tài sản, danh dự, uy tín của tổ chức. Nguyên nhân dẫn đến những thiệt hại này rất đa dạng, có thể là do tác động của các yếu tự nhiên bên ngoài, tác động bởi hoàn cảnh khách quan hay hành vi của con người…trong đó phần lớn là do các hành vi trái pháp luật của con người mang lại. Khi một người gây thiệt hại cho người khác sẽ làm phát sinh mối quan hệ bồi thường thiệt hại giữa họ và người bị thiệt hại. Vì thế những vấn đề liên quan đến chế định bồi thường thiệt hại, cụ thể là xác định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân luôn đặt ra nhiều câu hỏi lí luận và thực tiễn cần giải quyết. Với nhu cầu cấp bách và tầm quan trọng như vậy, việc tập hợp và tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn những quy định của pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại một cách có hệ thống là điều rất cần thiết. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu có hạn, em chỉ chủ yếu tập trung làm rõ một khía cạnh của chế định bồi thường thiệt hại nên đã chọn vấn đề “Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân- Một số vấn đề lí luận và thực tiễn” để nghiên cứu.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ


I-  Lý luận chung về bồi thường thiệt hại

  1. 1.  Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) được đề cập rất sớm trong hệ thống pháp luật của nước ta nhưng chỉ đến khi BLDS năm 1995 ra đời thì các quy định về trách nhiệm BTTH  mới được quy định một cách chi tiết. BLDS năm 2005 đã hoàn thiện hơn nữa các quy định về trách BTTH. Khoản 1 Điều 604 BLDS 2005 quy định:

“1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”

Như vậy, BTTH  là việc chủ thể gây thiệt hại phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi của mình gây ra cho chủ thể khác.

  1. 2.  Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Pháp luật dân sự quy định việc giải quyết vấn đề BTTH căn cứ vào các điều kiện nhất định. Điều kiện làm phát sinh trách nhiệm BTTH chính là những yếu tố tạo nên cơ sở cho việc xác định trách nhiệm bồi thường.

2.1. Có thiệt hại xảy ra

Thiệt hại là những tổn thất thực  tế được tính thành tiền do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản của tổ chức, cá nhân, tổn thất thực tế ở đây chính là sự giảm sút, mất mát về lợi ích vật chất, tinh thần hay những chi phí bỏ ra để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại mà người bị thiệt hại phải gánh chịu.

-                     Thứ nhất là thiệt hại về tài sản

Theo thông tư 173 UBTP/TANDTC ngày 23/3/1997 thì thiệt hại về vật chất (tài sản) là sự mất mát, giảm sút về một lợi ích vật chất có thể tính toán được bằng tiền, bao gồm các khoản: Những hư hỏng, mất mát về tài sản, những chi phí bỏ ra để sửa chữa và những thu nhập bị mất do bị thiệt hại.

 BLDS 2005 đã quy định rõ thiệt được bồi thường do tài sản bị xâm phạm. Thiệt được bồi thường cũng chính là thiệt hại mà người bị thiệt hại phải gánh chịu, bao gồm:

  1. Tài sản bị mất;
  2. Tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng;
  3. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản;
  4. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại

Và các thiệt hại trên muốn được bồi thường thì phải thoả mãn một số điều kiện: sự thiệt hại phải chắc chắn, thực tế và chưa được bồi thường.

Thiệt hại phải chắc chắn nghĩa là người bị thiệt hại phải đưa ra được những thiệt hại mà mình phải gánh chịu và những thiệt hại đó có thể tính toán được. Thiệt hại đó phải thực tế tuy nhiên tính thực tế của thiệt hại được biểu hiện không nhất thiết phải là thiệt hại đã xảy ra bởi lẽ một thiệt hại trong tương lai (thiệt hại gián tiếp) cũng được coi là có tính thực tế nếu chắc chắn rằng nó sẽ xảy ra và có thể ước lượng trước được. Do vậy mà hậu quả tương lai của một thiệt hại thực tế cũng có thể được xem xét để định ra mức bồi thường. Đương nhiên một thiệt hại không chắc chắn và chỉ mang tính giả định thì không thể được xem xét để bồi thường.

-                     Thứ hai là thiệt hại do bị tổn thất về tinh thần

BLDS 2005 cũng đã quy định việc bồi thường thiệt hại tinh thần tại các điều: Điều 609, Điều 610, Điều 611 nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của công dân “Toà án có thể buộc người xâm hại “bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại, người thân thích gần gũi của nạn nhân”.

-                     Thứ ba là thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ làm phát sinh thiệt hại về vật chất bao gồm chi phí cứu chữa, bồi thường, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu  nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ.

-                     Thứ tư là thiệt hại do danh dự, nhân phẩm uy tín bị xâm hại bao gồm chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại.

2.2.         Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật

Theo đó Điều 604 của BLDS 2005 có thể được hiểu là: hành vi trái pháp luật là hành vi xâm phạm đến  tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín , tài sản của cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác.

Hành vi trái pháp luật có thể là hành vi xâm phạm đến các quyền tài sản hoặc các quyền nhân thân. Khi xâm phạm đến các quyền về tài sản có nghĩa là xâm phạm đến các quyền về sở hữu, các quyền khác về vật còn xâm phạm đến các quyền nhân thân có nhiều biểu hiện khác nhau như xâm phạm đến đời tư, gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín… Trên thực tế có nhiều trường hợp chủ thể đã gây ra thiệt hại nhưng hành vi gây ra thiệt hại không phải là vi phạm pháp luật mà là hành vi hợp pháp nếu hành vi đó được thực hiện theo nghĩa vụ mà pháp luật quy định hoặc nghề nghiệp buộc họ phải làm như vậy. Trong các trường hợp này, trách nhiệm bồi thường không được đặt ra đối với người gây thiệt hại. Ngoài ra, người gây thiệt hại không phải bồi thường trong trường hợp phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết hoặc theo yêu cầu của người bị hại. Tuy nhiên, nếu vượt quá giới hạn nêu trên thì người gây ra thiệt hại vẫn phải bồi thường.

2.3.         Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi thiệt hại xảy ra là do chính kết quả trực tiếp, tất yếu của hành vi trái pháp luật. Đây chính là mối quan hệ của sự vận động nội tại, trực tiếp và về nguyên tắc nguyên nhân phải xảy ra trước kết quả trong khoảng thời gian xác định.

Hành vi trái pháp luật là nguyên nhân làm phát sinh thiệt hại cho nên hành vi đó bao giờ cũng xuất hiện trước thiệt hại. Mối quan hệ nhân quả là một vấn đề phức tạp bởi lẽ một thiệt hại xảy ra có thể là do tác động của một hoặc của nhiều hành vi trái pháp luật và một hành vi trái pháp luật cũng có thể gây ra nhiều thiệt hại.

Trong trường hợp thiệt hại do nhiều nguyên nhân gây ra thì xác định đâu là nguyên nhân chính hay tất cả đều là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại quả thật là phức tạp. Ở đây phải xác định xem hành vi nào là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại. Cũng có nhiều trường hợp thiệt hại xảy ra lại là do một hành vi trái pháp luật khác xen vào chứ không phải do hành vi có chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh gây thiệt hại.

Trường hợp một nguyên nhân có thể gây ra nhiều thiệt hại thì cần phải xác định rõ xem kết qủa nào là hậu quả trực tiếp do nguyên nhân là hành vi trái pháp luật gây ra.

2.4.         Người gây ra thiệt hại có lỗi

Việc áp dụng lỗi làm căn cứ để xác định trách nhiệm được BLDS 2005 quy định tại Điều 308 trong đó nhấn mạnh lỗi là căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Điều 308 khoản 2 cũng chia lỗi thành hai loại là lỗi cố ý và lỗi vô ý được quy định như sau:

“Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra”.

Tại khoản 2, Điều 308 quy định về khái niệm lỗi vô ý: “Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại mặc dù phải biết hoặc có thể thấy trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại nhưng lại cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được”.

Trong những trường hợp đặc biệt được pháp luật quy định, thì người gây thiệt hại có thể được miễn giảm mức bồi thường (do Tòa án xem xét quyết định). Những trường hợp phổ biến trong việc miễn giảm mức bồi thường cho người gây thiệt hại thường phát sinh trong các trường hợp sau:

- Người gây thiệt hại có lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình (Khoản 2 điều 610); người gây thiệt hại bồi thường thấp hơn thiệt hại do hành vi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với điều kiện bồi thường của người gây thiệt hại. Qui định này đã loại trừ người gây thiệt hại có lỗi cố ý và pháp luật không qui định xem xét để giảm mức bồi thường.

- Người gây thiệt hại và người bị thiệt hại thỏa thuận với nhau về mắc bồi thường thấp hơn thiệt hại. Luật dân sự Việt Nam tôn trọng nguyên tắc thỏa thuận. Chính vì thế, trong trường hợp người gây thiệt hại có lỗi cố ý nhưng có sự thỏa thuận với người bị thiệt hại về mức bồi thường thấp hơn thiệt hại, nếu thỏa thuận đó không trái pháp luật và đạo đức xã hội và được Tòa án thừa nhận, thì người gây thiệt hại do lỗi cố ý được miễn giảm phần bồi thường thiệt hại do mình gây ra.

3. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

Việc BTTH phải tuân theo các nguyên tắc sau:

-         Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

-         Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

-         Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi mức bồi thường.

4.  Phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng

Tuy có những điểm giống nhau nhất định vì cùng là trách nhiệm dân sự nhưng giữa hai loại trách nhiệm này cũng có những điểm khác nhau căn bản:

Về cơ sở phát sinh: trách nhiệm dân sự theo hợp đồng chỉ phát sinh khi có sự hiện diện của một hợp đồng, loại trách nhiệm này phát sinh do hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của hợp đồng. Trong khi đó, trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng phát sinh từ một hành vi cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại cho người khác và hành vi đó không liên quan đến bất kỳ một hợp đồng nào có thể có giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại.

Khi thực hiện trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cả thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp (nếu có), còn trong trách nhiệm theo hợp đồng thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường những thiệt hại trực tiếp và những thiệt hại có thể tiên liệu trước khi ký kết hợp đồng.

Việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ làm chấm dứt nghĩa vụ giữa các bên, trong khi đó việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo hợp đồng thì nghĩa vụ của người gây thiệt hại chưa chắc đã chấm dứt.

Trong trách nhiệm dân sự theo hợp đồng trách nhiệm chỉ phát sinh do lỗi cố ý hoặc vô ý của người không thực hiện, thực hiện không đúng hợp đồng trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc giữa các bên có thỏa thuận khác, còn trong trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng thì ngay cả trong trường hợp không có lỗi thì vần phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Khoản 2 Điều 604 BLDS 2005).

Một điểm khác nữa giữa hai loại trách nhiệm này là những người gây thiệt hại ngoài hợp đồng đa phần phải chịu trách nhiệm liên đới nếu có đủ các điều kiện mà luật định, còn trong trách nhiệm theo hợp đồng trách nhiệm liên đới chỉ đặt ra nếu có thỏa thuận trước.

II-              Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

  1. 1.      Cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Hành vi gây thiệt hại có thể được thực hiện bởi bất cứ chủ thể nào: cá nhân, pháp nhân, cơ quan nhà nước,… Nhưng việc bồi thường thiệt hại phải do người có “khả năng” bồi thường và chính họ phải tham gia vào quan hệ nghĩa vụ, mặc dù hành vi gây ra thiệt hại có thể không phải do chính họ thực hiện. Điều 606 BLDS năm 2005 quy định về năng lực chịu trách nhiệm BTTH của cá nhân mà không quy định về năng lực bồi thường của các chủ thể khác. Bởi vậy, các chủ thể khác được mặc nhiên coi là có năng lực chịu trách nhiệm BTTH. Việc xác định cá nhân nào có năng lực chịu trách nhiệm BTTH và phải BTTH trong trường hợp nào có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại.

Trách nhiệm BTTH phát sinh dựa trên các điều kiện do pháp luật quy định. Khi có thiệt hại xảy ra, thiệt hại xảy ra do hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi thì trong đa số trường hợp, người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau như người gây thiệt hại bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, không có tài sản hoặc có tài sản nhưng không đủ để thực hiện trách nhiệm bồi thường mà người gây thiệt hại không thể trực tiếp bồi thường cho người bị thiệt hại. Trong từng hoàn cảnh cụ thể, pháp luật xác định trách nhiệm BTTH thuộc về cha, mẹ của người gây thiệt hại là người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi, người giám hộ của người gây thiệt hại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,…

Cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại là việc xác định người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại chính trong từng trường hợp gây thiệt hại cụ thể bất luận người đó có phải là người trực tiếp gây ra thiệt hại hay không.

Cá thể hóa trách nhiệm bồi thường có thể dựa trên những tiêu chí nhất định như độ tuổi và trình độ nhận thức. Cụ thể:

-         Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ gây thiệt hại thì phải tự mình BTTH.

-         Người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên, do đó khi người chưa thành niên gây thiệt hại cần lưu ý:

+                   Nếu người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại bằng tài sản của mình; nếu tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu.

+                   Nếu người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

-         Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

-         Người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại trong thời gian trường học, bệnh việc, tổ chức khác trực tiếp quản lí thì các tổ chức này phải BTTH. Nếu tổ chức này chứng minh được mình không có lỗi thì cha mẹ người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự phải BTTH.

  1. 2.     Năng lc bi thường thit hại của người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

Khoản 1 Điều 606 BLDS 2005 quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường”, tuy nhiên, qua việc xem xét mối liên hệ giữa quy định này với quy định tại Khoản 3 Điều 606 thì thấy rằng cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì phải tự bồi thường nếu gây thiệt hại.

Điều 19 về năng lực hành vi dân sự của người thành niên quy định: “Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ trừ trường hợp quy định tại Điều 22 và Điều 23 của Bộ luật này”. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người thành niên nếu không bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình mà bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự; không nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình mà bị Tòa án tuyên hạn chế năng lực hành vi dân sự thì được coi là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Ở mỗi con người bình thường đều có khả năng hình thành và phát triển ý thức và tự ý thức. Nhưng phải qua quá trình hoạt động và giáo dục trong điều kiện xã hội, khả năng đó mới có thể trở thành hiện thực. Những người đáp ứng đủ các điều kiện trên, xét về cơ bản tâm sinh lí của họ đều đã phát triền một cách hoàn thiện. Họ hoàn toàn có đầy đủ khả năng để nhận thức về sự vật, sự việc, và tự quyết định về hành động của mình, hoàn toàn có khả năng nhận biết được thế giới khách quan. Họ có nghĩa vụ phải biết trước những hành vi của mình sẽ đem lại những hậu quả như thế nào, hành vi đó có xâm phạm đến lợi ích của các chủ thể khác hay không từ đó lựa chọn cách xử sự phù hợp, đảm bảo cân bằng giữa lợi ích cá nhân, lợi ích của các chủ thể khác và xã hội.

Việc xác định người từ đủ mười tám tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ phải bồi thường cho những thiệt hại mà mình gây ra là hoàn toàn phù hợp. Bởi lẽ, người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đủ điều kiện tham gia vào các quan hệ pháp luật do vậy, họ hoàn toàn có năng lực để tham gia và trở thành chủ thể của quan hệ BTTH và nếu là người gây thiệt hại thì họ hoàn toàn có đủ năng lực để thực hiện trách nhiệm bồi thường. Ở độ tuổi này, họ đã có khả năng lao động, có thể tạo ra thu nhập, hình thành khối tài sản riêng của mình.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, một bộ phận không nhỏ trong số những người từ đủ mười tám tuổi trở lên là những người mới trưởng thành, họ vẫn còn đi học, chưa có công việc làm, chưa có thu nhập hay tài sản đáng kể, vẫn sống phụ thuộc vào cha, mẹ. Vậy, trong trường hợp những người từ đủ mười tám tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nhưng không có tài sản riêng gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thuộc về ai? Để đảm bảo nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời, đảm bảo khôi phục lại tình trạng ban đầu hoặc khắc phục thiệt hại một cách nhanh nhất, đảm bảo cuộc sống ổn định cho người bị thiệt hại trước khi bị xâm phạm. Trong trường hợp này Toà án có thể chủ động giải thích, khuyến khích cha mẹ người thành niên đó tự nguyện bồi thường thiệt hại do người mới trưởng thành gây ra. Toà án có thể công nhận sự tự nguyện đó, những về mặt pháp lý, không thể quyết định cha mẹ họ phải bồi thường. Ngoài ra, trong trường hợp người thành niên có thu nhập, còn ở chung và chung kinh tế với cha mẹ, mà gây thiệt hại  thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại bằng phần thu nhập thường xuyên của bản thân và phần tài sản chung với cha mẹ. Toà án cần triệu tập cha mẹ họ đến phiên toà với tư cách là dự sự.

  1. 3.     Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên

Điều 18 BLDS 2005 quy định: “Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”. Người chưa thành niên là những người bắt đầu có sự nhận thức về hành vi của mình, tuy nhiên sự nhận thức này vẫn còn những hạn chế nhất định. Căn cứ vào độ tuổi và trình độ nhận thức và khả năng chịu trách nhiệm BTTH, pháp luật dân sự Việt Nam phân chia người chưa thành niên thành hai nhóm: những người dưới 15 tuổi và những người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi. Theo đó, năng lực chịu trách nhiệm BTTH của hai nhóm này cũng không giống nhau.

3.1.         Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi

Khoản 2 Điều 606 BLDS 2005 quy định: “Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 621 Luật này”. Như vậy, trách nhiệm BTTH do người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại trước tiên được xác định cho cha, mẹ của người đó.

Căn cứ vào sự phát triển về khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của cá nhân dựa tên cơ sở về độ tuổi, người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi được phân thành hai nhóm:

-         Cá nhân chưa đủ 6 tuổi. Những người thuộc nhóm tuổi này không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, được coi là những người không có năng lực hành vi dân sự. Họ không thể tự mình thực hiện các giao dịch dân sự do không nhận thức được hành vi của mình và hậu quả pháp lí của những hành vi đó. Vì vậy, giao dịch dân sự của người chưa đủ 6 tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Cá nhân ở độ tuổi này cũng ít có năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác và hầu như không có năng lực để thực hiện trách nhiệm BTTH do mình gây ra, vì vậy, cha, mẹ của những người ở độ tuổi này là những người đại diện đương nhiên với tư cách bị đơn dân sự trước tòa.

-         Cá nhân từ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi là những người có năng lực hành vi dân sự một phần. Những người thuộc nhóm tuổi này chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm – sinh lí, trình độ nhận thức còn hạn chế vì vậy khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Pháp luật không quy định thế nào là giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi, tuy vậy, cần phải hiểu đó là những giao dịch có giá trị không lớn, nhằm thỏa mãn nhu cầu học tập, sinh hoạt vui chơi trong một giới hạn tài sản nhất định phù hợp với điều kiện sinh hoạt tại địa phương nơi cá nhân đó sinh sống. Nếu cá nhân từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi tham gia các giao dịch dân sự có giá trị lớn, không được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật thì người đại diện theo pháp luật có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu. Như vây, ta có thể thấy, sự phụ thuộc của những người chưa thành niên trong độ tuổi này vào bố mẹ – người đại diện theo pháp luật hợp pháp vẫn còn rất lớn.

Điều này một mặt xuất phát từ tính chất nhân đạo của pháp luật đối với những người chưa thành niên phạm tội hoặc gây những thiệt hại khác, mặt khác đề cao vai trò quản lí, giáo dục người chưa thành niên của cha mẹ.  Cha me, hay nói một cách khái quát hơn là gia đình có vai trò rất lớn trong việc giáo dục, quản lí người chưa thành niên. Bên cạnh đó, đây cũng là đối tượng rất được sự quan tâm của nhà trường và toàn xã hội. Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi, do chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất cũng như nhận thức nên thường là những đối tượng dễ uốn nắn, dễ bị ảnh hưởng, tác động từ bên ngoài. Sự giáo dục của cha mẹ trong giai đoạn này có tính chất quyết định đến việc định hình nhân cách của người chưa thành niên sau này. Người đó sẽ trở thành một công dân tốt hay xấu phần lớn phụ thuộc vào sự phát triển trong giai đoạn này. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định vấn đề BTTH do con dưới mười lăm tuổi gây ra tại Điều 40 như sau: “Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định tại Điều 611 của Bộ luật dân sự năm 1995”. Ngoài ra, Điều 17 Luật Bảo vệ, giáo dục và chăm sóc trẻ em ngày 12/08/1991 cũng quy định: “Cha mẹ, người đỡ đầu phải chịu trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự về những thiệt hại do hành vi của những đứa trẻ mình nuôi dạy gây ra”. Kết hợp với các quy định tại Điều 609 BLDS 2005 có thể thấy, pháp luật nước ta rất coi trọng trách nhiệm và nghĩa vụ của cha mẹ trong việc BTTH do hành vi trái pháp luật của con từ dưới mười lăm tuổi gây ra. Chính vì thế, cha mẹ của những người gây thiệt hại trong độ tuổi này có tư cách bị đơn dân sự, có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ cho thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con, trong khi chính cá nhân gây thiệt hại lại hoàn toàn không có trách nhiệm bồi thường.

Tuy nhiên, pháp luật cũng dự liệu những trường hợp mà cá nhân gây thiệt hại là người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi, cha mẹ lại không có hoặc không đủ khả năng bồi thường. Trong trường hợp này, nếu con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường. Quy định này không nhằm loại trừ trách nhiệm của cha mẹ. Thực tế, dù cha mẹ có lấy tài sản riêng của con để bồi thường trong trường hợp tài sản của cha mẹ không đủ hoặc không có tài sản cũng không có nghĩa là trách nhiệm BTTH đã chuyển sang cho người con. Giả sử người con không có tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ cho phần còn thiếu thì trách nhiệm vẫn luôn thuộc về cha mẹ. Như vậy, trong mọi trường hợp gây thiệt hại trái pháp luật mà không có căn cứ loại trừ trách nhiệm BTTH theo quy định của pháp luật, người bị thiệt hại đều được bồi thường, vấn đề là trách nhiệm bồi thường đó thuộc về ai mà thôi. Cần phải nói thêm, một lí do tham khảo nữa khiến luật quy định như vậy là do người chưa thành niên ở độ tuổi này không có hoặc chưa có khả năng lao động. Pháp luật hiện hành quy định độ tuổi lao động từ đủ mười lăm tuổi trở lên, trừ những công việc liên quan đến năng khiếu, nghệ thuật như múa, xiếc,… thì mới có người lao động dưới mười lăm tuổi, nhưng hợp đồng lao động giữa họ và người sử dụng lao động phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật cho họ. Chính vì thế, đa số người dưới mười lăm tuổi không có thu nhập hoặc tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho người bị thiệt hại

3.2            . Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi

Khoản 2 Điều 606 quy định: “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình”. Như vậy, cùng một điều luật quy định về năng lực chịu trách nhiệm BTTH của người chưa thành niên nhưng lại có sự khác nhau cơ bản giữa trách nhiệm của người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi và người chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi. Nếu người dưới mười lăm tuổi, trách nhiệm BTTH được đặt ra trực tiếp với cha, mẹ của cá nhân gây thiệt hại, cá nhân gây thiệt hại không có trách nhiệm bồi thường thì người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi lại phải chịu trách nhiệm trực tiếp cho những thiệt hại do hành vi của mình gây ra.

Quy định này trước hết xuất phát từ trình độ phát triển về mặt thể chất và nhận thức của những cá nhân ở độ tuổi này. Cùng ở trong lứa tuổi chưa thành niên nhưng những cá nhân từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi đã có sự phát triển hơn hẳn những cá nhân dưới 15 tuổi. Cụ thể, những người chưa thành niên ở lứa tuổi này đã có sự nhận biết khá hoàn chỉnh về thế giới khách quan, có khả năng nhận biết được hành vi nào không gây thiệt hại và hành vi nào gây thiệt hại cho xã hội, từ đó, lựa chọn cách xử sự hợp lí, phù hợp với lợi ích cá nhân và lợi ích của các chủ thể khác. Những người trong độ tuổi từ đủ 15 đến dưới 18 đã cơ bản hình thành về mặt nhân cách, nhận thức, không còn dễ uốn nắn và tác động như người chưa thành niên dưới 15 tuổi. Bên cạnh đó, người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có tài sản riêng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, ta có thể thấy, cá nhân từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi đã có sự độc lập tương đối so với cha mẹ – những người đại diện theo pháp luật.

Tuy nhiên, do những người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi vẫn là những người chưa thành niên. Xét về mặt năng lực hành vi dân sự thì họ vẫn chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Vì vậy, trong trường hợp người chưa thành niên, chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ gây thiệt hại thì không thể loại trừ trách nhiệm của cha mẹ, người đại diện theo pháp luật. Khoản 2 Điều 606 còn quy định thêm người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại, nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. Quy định này, một mặt nhằm rằng buộc trách nhiệm pháp lí của cha, mẹ trong việc giáo dục, quản lí đối với con chưa thành niên, mặt khác, nhằm đảm bảo lợi ích cho người bị thiệt hại trong trường hợp người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi gây thiệt hại nhưng không đủ khả năng bồi thường toàn bộ.

  1. 4.      Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người được giám hộ

Điều 58 BLDS năm 2005 quy định: “Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ)”. Tuy nhiên, giám hộ ngoài việc thực hiện những nghĩa vụ theo luật định đối với người được giám hộ thì còn có trách nhiệm trong việc BTTH do hành vi trái pháp luật của người được giám hộ gây ra. Người được giám hộ theo khoản 2 Điều 58 bao gồm: “a. Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế quyền  của cha ,mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu; b. Người mất năng lực hành vi dân sự”.

4.1            .  Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người được giám hộ là người chưa thành niên

Người chưa thành niên theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 8 thì cần có người giám hộ. Do vậy, với người chưa thành niên vẫn còn cha, mẹ và cha, mẹ của họ không rơi vào các trường hợp nêu trên thì họ đương nhiên là đại diện cho con và thiệt hại do người chưa thành niên gây ra sẽ được cha mẹ bồi thường theo cách thức bồi thường phân tích ở mục 2.

Nếu cha, mẹ của người chưa thành niên rơi vào các trường hợp nêu ở điểm a khoản 2 Điều 58, người chưa thành niên gây thiệt hại phải bồi thường thì trách nhiệm pháp lí trong khi thực hiện việc giám hộ của người giám hộ được đặt ra, trong đó có trách nhiệm BTTH.

Người giám hộ được chia thành hai loại: giám hộ đương nhiên và giám hộ cử. Người giám hộ đương nhiên được xác định dựa trên mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng nhằm ràng buộc trách nhiệm giữa những người thân thích, ruột thịt trong gia đình với nhau. Người giám hộ đương nhiên không có quyền từ chối trách nhiệm giám hộ của mình, họ phải chịu trách nhiệm về những hành vi do người được giám hộ gây ra. Thứ tự các thành viên trong gia đình được pháp luật quy đinh làm người giám hộ đương nhiên cho người chưa thành niên, có nghĩa vụ chăm sóc, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ, có trách nhiệm trong việc để người được giám hộ gây thiệt hại phải bồi thường sẽ được thực hiện như sau:

Trước hết là trách nhiệm của anh cả, chị cả đã thành niên đủ điều kiện làm người giám hộ. Nếu anh cả, chị cả không đủ điều kiện làm người giám hộ thì ông, bà nội, ông, bà ngoại là người giám hộ. Trong trường hợp tất cả những người nêu trên không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì bác, chú, cậu, cô, dì là người giám hộ. Nếu không có người giám hộ đương nhiên thì sẽ phải cử người giám hộ. Việc cử người giám hộ phải được sự đồng ý của người đó để đảm bảo họ luôn thực hiện tốt trách nhiệm giám hộ trên tinh thần tự nguyện, tự giác. Theo quy định tại khoản 3 Điều 606 thì khi người được giám hộ gây thiệt hại cho người khác, người giám hộ có trách nhiệm dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường thiệt hại, chỉ trong trường hợp người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải lấy tài sản của mình để bồi thường. Quy định này được thực hiện để bảo đảm nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời, khôi phục thiệt hại của người bị thiệt hại, đồng thời ràng buộc trách nhiệm của người giám hộ trong việc giám hộ.

Tuy nhiên, quy định về trách nhiệm BTTH của người chưa thành niên từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi có người giám hộ lại khác về cơ bản so với quy định về trách nhiệm BTTH của người chưa thành niên từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi còn cha mẹ. Ở trường hợp người gây thiệt hại là người chưa thành niên từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi còn cha mẹ thì trách nhiệm bồi thường trước tiên thuộc về người đó; nếu người đó không có tài sản hoặc tài sản không đủ để bồi thường thì trách nhiệm bồi thường mới được đặt ra với cha, mẹ. Ngược lại, ở trường hợp người gây thiệt hại là người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có người giám hộ thì trách nhiệm BTTH trước tiên lại thuộc về người giám hộ, sau đó mới là người chưa thành niên gây thiệt hại. Một điểm khác biệt nữa khi quy định về trách nhiệm BTTH do hành vi trái pháp luật của người chưa thành niên gây ra đó là: “nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường” trong khi đó vấn đề lỗi không được đặt ra đối với trường hợp người gây thiệt hại là người chưa thành niên còn cha mẹ, tức là cha mẹ vẫn phải bồi thường ngay cả khi không có lỗi. Vậy trong trường hợp người gây thiệt hại là người chưa thành niên, không có tài sản hoặc tài sản không đủ để bồi thường, người giám hộ không có lỗi trong việc giám hộ thì trách nhiệm bồi thường sẽ thuộc về ai?

4.2.         Năng lực chịu trách nhiệm BTTH của người được giám hộ là người mất năng lực hành vi dân sự

Người mất năng lực hành vi dân sự là người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, bị tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan. Người mất năng lực hành vi dân sự cần phải có người giám hộ, người giám hộ sẽ là người đại diện cho họ trong các giao dịch dân sự. Người mất năng lực hành vi dân sự có thể là bất kì ai và ở bất kì độ tuổi nào, do vậy mà tùy từng trường hợp khác nhau mà việc quy định trách nhiệm BTTH do người được giám hộ là người mất năng lực hành vi dân sự gây ra cũng khác nhau. Cụ thể:

Nếu người mất năng lực hành vi dân sự là người chưa thành niên mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ chính là người giám hộ. Họ có phải chăm sóc và quản lí người mất năng lực hành vi dân sự. Trong quá trình chăm sóc và quản lí người mất năng lực hành vi dân sự, nếu người giám hộ để người được giám hộ gây thiệt hại cho người khác thì họ phải có trách nhiệm bồi thường. Vì người giám hộ trong trường hợp này là cha, mẹ của người mất năng lực hành vi dân sự là người chưa thành niên nên trách nhiệm BTTH cũng giống như trách nhiệm BTTH của cha, mẹ đối với con chưa thành niên gây thiệt hại.

Trong trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự đã có vợ (hoặc chồng) thì người vợ (hoặc chồng) có đủ điều kiện sẽ là người giám hộ (Khoản 1 Điều 62 BLDS 2005). Người giám hộ được lấy tài sản của người được giám hộ để thực hiện trách nhiệm BTTH. Nếu như tài sản của người được giám hộ không đủ để bồi thường thì phải phân định tài sản chung của vợ chồng sau đó mới xác định trách nhiệm bồi thường. Sau khi xác định tài sản chung mà tài sản chung vẫn không đủ để bồi thường thì người giám hộ mới phải lấy tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ bồi thường phần còn thiếu.

Trường hợp cả cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người bị mất năng lực hành vi dân sự nhưng người kia không đủ điều kiện để làm người giám hộ thì người con cả phải là người giám hộ. Nếu người con cả không đủ điều kiện để làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện sẽ là người giám hộ. Nếu cha, mẹ mà gây thiệt hại cho người khác thì người con đang giám hộ cha, mẹ sẽ lấy chính tài sản của cha, mẹ để thực hiện nghĩa vụ BTTH cho người bị thiệt hại. Sau khi lấy tài sản của cha, mẹ để bồi thường nhưng vẫn còn thiếu thì người con đang giám hộ có trách nhiệm dùng tài sản của mình bồi thường phần còn thiếu.

Trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự là người đã thành niên và đã có vợ, chồng, con nhưng vợ, chồng, con đều không đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ có đủ điều kiện phải làm người giám hộ cho họ. Nếu họ gây thiệt hại về tài sản cho người khác thì cha, mẹ sẽ lấy tài sản riêng của người được giám hộ để thực hiện trách nhiệm BTTH. Nếu tài sản đó không đủ để bồi thường thì người giám hộ mới phải lấy tài sản của mình để bồi thường. Xác định trách nhiệm bồi thường nốt phần còn thiếu do thiệt hại của người được giám hộ gây ra cần phải chia làm hai trường hợp: Nếu cả cha, mẹ cùng là người giám hộ thì sẽ lấy tài sản chung vợ chồng của cha, mẹ để thực hiện nghĩa vụ bồi thường phần còn thiếu cho người được giám hộ; nếu chỉ có cha hoặc mẹ làm người giám hộ thì sẽ không lấy tài sản chung mà lấy tài phần tài sản riêng trong khối tài sản chung của vợ chồng để thực hiện nghĩa vụ bồi thường phần còn thiếu của người được giám hộ.

  1. 5.      Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi và người mất năng lực hành vi dân sự trong thời gian trường học, bệnh viện, tổ chức khác quản lí

Điều 621 quy định trách nhiệm BTTH trong trường hợp người chưa thành niên dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự đang được nhà trường, bệnh viện hoặc các tổ chức khác quản lí mà gây thiệt hại thì nhà trường, bệnh viện và các tổ chức này phải bồi thường. Trách nhiệm BTTH được xác định dựa trên yếu tố lỗi của nhà trường, bệnh viện, các tổ chức và được thể hiện trong nghĩa vụ quản lí người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự không cẩn trọng, không chu đáo, thiếu biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn mà để họ gây thiệt hại. Thời gian quản lí là thời hạn trong đó nhà trường theo quy định nghề nghiệp có nghĩa vụ giáo dục mà họ không thực hiện tốt chức năng của họ; bệnh viện có nghĩa vụ chăm sóc, điều trị nhưng do lỗi quản lí không tốt để người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác. Lúc đó, cha mẹ, người giám hộ của người chưa thành niên dưới 15 tuổi, người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự không có trách nhiệm bồi thường. Quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm của nhà trường trong việc quản lí học sinh đang trong thời gian học tập tại trường theo thời khóa biểu văn hóa chính khóa, ngoại khóa hoặc lao động, vui chơi, giải trí do nhà trường tổ chức; trách nhiệm của bệnh viện, các tổ chức khác trong việc chăm sóc, quản lí bệnh nhân trong thời gian bệnh nhân điều trị tại bệnh viện. Pháp luật quy định xét trách nhiệm của nhà trường, bệnh viện, tổ chức khác phải có yếu tố lỗi nên trong trường hợp họ chứng minh được không có lỗi trong thời gian quản lí để người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại thì cha, mẹ, người giám hộ của người dưới 15 tuổi, người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường.

Quy định trong BLDS 2005 có sự khác biệt cơ bản trong BLDS 1995. Điều 625 BLDS 1995 quy định: “Trường học, bệnh viện, các tổ chức khác nếu có lỗi trong việc quản lí thì phải liên đới cùng cha, mẹ, người giám hộ BTTH cho người chưa đủ 15 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự gây ra cho người khác trong thời gian trường học, bệnh viện, các tổ chức khác trực tiếp quản lí những người đó”. Vậy theo quy định tại BLDS 1995, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường đối với cha, mẹ, người giám hộ hay trường học, bệnh viện, các tổ chức khác trực tiếp quản lí vì nghĩa vụ dân sự liên đới theo khoản 1 Điều 304 BLDS 2005 là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và người có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Tuy nhiên, trong BLDS 2005 thì cụm từ “liên đới cùng với cha mẹ, người giám hộ” không được quy định và người bị thiệt hại chỉ có thể đòi yêu cầu BTTH đối với trường học, bệnh viện, các tổ chức khác trực tiếp quản lí nếu họ có lỗi trong việc giáo dục. Theo em, quy định này là chưa hợp lí đối với trường hợp người gây thiệt hại là người chưa thành niên dưới 15 tuổi. Bởi lẽ, hầu hết các hành vi gây thiệt hại của các trẻ em trong thời gian học tập tại trường không đơn thuần là kết quả của quá trình giáo dục riêng của nhà trường, mà là sản phẩm của quá trình giáo dục của cả nhà trường và cha mẹ, trong đó, vai trò của cha mẹ rất quan trọng. Vì vậy, để tránh tình trạng phó thác việc giáo dục học sinh cho một bên, nên quy định nghĩa vụ liên đới của cha mẹ và nhà trường trừ các trường giáo dưỡng vì tính đặc thù của học viên trong loại hình trường này.

Một điểm nữa chưa hợp lí đó là quy định tại khoản 2 Điều 621: “Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lí thì bệnh viện, tổ chức khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra”. Theo quy định của pháp luật, một người chỉ được coi là mất năng lực hành vi dân sự khi có đủ ba điều kiện:

-         Do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.

-         Người có quyền và lợi ích liên quan yêu cầu tòa án tuyên bố người bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác đó mất năng lực hành vi dân sự .

-         Tòa án tuyên bố người bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác đó mất năng lực hành vi dân sự.

Tuy nhiên, trên thực tế, những bệnh nhân mắc bênh tâm thần hoặc bệnh khác khiến không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình đang được điều trị tại bệnh viện hoặc được quản lí tại các tổ chức khác hầu như chưa được Tòa án tuyên bố là mất năng lực hành vi dân sự. Vậy trong trường hợp những người này gây thiệt hại trong thời gian bệnh viện, các tổ chức khác trực tiếp quản lí thì ai là người có trách nhiệm bồi thường? Nên chăng quy định này nên sửa thành: “Người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lí thì bệnh viện, tổ chức khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra”.

  1. 6.                 Một số trường hợp riêng biệt về năng lực bồi thường thiệt hại

6.1. Năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân là người của pháp nhân gây ra

Pháp nhân theo quy định của pháp luật dân sự có đầy đủ tư cách là chủ thể của một quan hệ pháp luật dân sự độc lập. Tuy nhiên, tất cả các hoạt động của pháp nhân lại được tiến hành và thực hiện thông qua hành vi của các cá nhân là người đại diện hoặc là thành viên của pháp nhân và khi đó các quyền và nghĩa vụ của các cá nhân này đem lại trong khi thực hiện nhiệm vụ do pháp nhân giao sẽ thuộc về pháp nhân và đương nhiên thiệt hại họ gây ra khi thực hiện những công việc của pháp nhân sẽ do pháp nhân bồi thường. Điều 618 BLDS năm 2005 quy định: “Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.”

Trong trường hợp người của pháp nhân gây thiệt hại nhưng không phải là do thực hiện công việc mà pháp nhân giao cho hay vượt quá phạm vi của nhiêm vụ được giao thì trách nhiệm bồi thường sẽ thuộc về chính cá nhân – người đã gây ra thiệt hại.

6.2.         Năng lực bồi thường thiệt hại của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo Điều 23 của BLDS 2005 quy định “Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự”. Hạn chế năng lực hành vi dân sự theo đó được hiểu là một người đã thành niên và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nhưng vì rơi vào trường hợp nêu trên nên bị hạn chế một phần năng lực hành vi dân sự của mình. Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự dẫn đến năng lực hành vi dân sự không đầy đủ phải thông qua quyết định của Tòa án và theo trình tự tố tụng dân sự. Chế định này được áp dụng đối với những người nghiện mà túy và các chất kích thích khác dẫn đến nguy cơ phá tán tài sản. Do vậy mà khi những người này gây ra thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường không thể giống với người chưa thành niên có năng lực hành vi dân sự một phần được.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của BLDS 2005 thì người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự cũng cần có người đại diện theo pháp luật và các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người này phải được người đại diện theo pháp luật thông qua. Như vậy, nếu người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà gây thiệt hại phải bồi thường bằng tài sản thì việc lấy tài sản để bồi thường cần phải có sự giám sát của người đại diện theo pháp luật. Mặc dù người gây thiệt hại không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ do bị hạn chế nhưng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do họ gây ra là thuộc về họ mà không phải là trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật như trường hợp đối với người có năng lực hành vi dân sự một phần là người chưa thành niên. Về thực chất thì người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoàn toàn có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do vậy, người đại diện theo pháp luật cho họ cũng không có nghĩa vụ phải lấy tài sản của mình để bồi thường thay cho người gây ra thiệt hại vì đây không phải là trách nhiệm của họ. Nếu hiện tại người gây thiệt hại không có đủ tài sản để bồi thường thì sẽ phải tiếp tục thực hiện trách nhiệm sau khi có tài sản mà không thể bắt người khác thay họ thực hiện trách nhiệm bồi thường.

III-            Thực tiễn áp dụng các quy định của BLDS về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân

  1. 1.           Áp dụng các quy định pháp luật dân sự về năng lực chịu trách nhiệm BTTH của cá nhân do hành vi gây thiệt hại tại các tòa án

Kể từ khi BLDS năm 2005 ra đời, các quy định về bồi thường thiệt hại về cơ bản đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, giữ gìn những phong tục tập quán, truyền thống đạo đức tốt đẹp của nhân dân ta trong cuộc sống hàng ngày, đúng như nguyên tắc được ghi nhận tại Điều 4 BLDS. Trật tự và quy phạm trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại đã phần nào đi vào trạng thái ổn định, phù hợp với những yêu cầu của thực tiễn cuộc sống và giao lưu dân sự trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân là phần quy định pháp lý rất đặc biệt và quan trọng, trong đó chủ thể gây thiệt hại và chủ thể phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi gây thiệt hại chủ thể kia gây ra được phân tách một cách rõ ràng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc giải quyết các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại do cá nhân gây ra gặp rất nhiều khó khăn bởi các quy phạm liên quan nằm trong nhiều chế định khác nhau của BLDS như đã đề cập và nội dụng của các điều luật điều chỉnh còn một số vấn đề chưa hợp lý. Tình hình thụ lý các vụ việc dân sự có liên quan đến việc giải quyết bồi thường thiệt hại của cá nhân tại các tòa án rất phức tạp, một số vụ việc dân sự chưa được giải quyết triệt để do những vướng mắc bất cập trong việc thực hiện các quy định cảu pháp luật hiện hành. Vấn đề giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về bồi thường thiệt hại luôn được đề cập trong các báo cáo công tác ngành tòa án, cũng như trong những công văn hướng dẫn công tác xét xử trong lĩnh vực hình sự, dân sư, kinh tế, lao động và tố tụng của tòa án nhân dân tối cao.

  1. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định pháp luật còn bất cập về năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại

2.1.         Hoàn thiện hệ thống pháp luật

Ngoài việc rà soát toàn bộ các quy định về trách nhiệm BTTH của cá nhân trong lĩnh vực khác nhau để tiến hành sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới nhằm bảo đảm tính thống nhất với các quy định mang tính nguyên tắc trong BLDS, sau đây là một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung các điều luật như sau:

- Vấn đề bồi thường thiệt hại do người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian họ được trường học, bệnh viện hoặc tổ chức khác trực tiếp quản lý thì trường học, bệnh viện, tổ chức khác quản lý phải bồi thường thiệt hại xảy ra, trừ trường hợp trường học, bệnh viện, tổ chức khác chứng minh được mình có lỗi. Như vậy các nhà làm luật cần phải sửa đổi, bổ sung những quy định pháp luật để làm rõ hơn yếu tố lỗi, phải làm rõ đây là lỗi trong quản lý chứ không phải là lỗi trong việc gây ra thiệt hại.

      – Về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường, Điều 606 BLDS năm 2005 có quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân một cách tương đối cụ thể. Tuy nhiên, với ý nghĩa là những quy định chung thì nội dung của điều luật này cần đề cập đến trách nhiệm bồi thường của các chủ thể khác như pháp nhân, cơ quan, tổ chức…Trên thực tế, có nhiều trường hợp do pháp luật quy định thiếu cụ thể đẫn đến việc nhận thức và vận dụng thiếu thống nhất tại các tòa án, nhất là những vụ việc liên quan đến trách nhiệm giải quyết của nhiều cấp, nhiều ngành. BLDS năm 1995 và 2005 đều có quy định về bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể và các trường hợp này đều quy định về trách nhiệm bồi thường trực tiếp của pháp nhân, cơ quan, tổ chức. Bởi vậy, để đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất, cần phải bổ sung vào Điều 606 BLDS năm 2005 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của pháp nhân, cơ quan, tổ chức theo hướng khi công chức, viên chức của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng, người của pháp nhân gây ra thiệt hại thì cơ quan, tổ chức, pháp nhân phải trực tiếp bồi thường thiệt hại bằng tài sản của pháp nhân, cơ quan, tổ chức, sau đó cơ quan, tổ chức, pháp nhân có quyền yêu cầu người có lỗi gây ra thiệt hại phải bồi thường hoàn trả khoản tiền đã bồi thường.

    – Trên thực tiễn, việc xử các vụ án dân sự liên quan đến bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên vi phạm pháp luật gây ra, chúng ta thấy còn một số những bất cập do thiếu các quy định của pháp luật hướng dẫn như khi xét xử tòa án chưa xác định được tư cách bị đơn (thường là cha mẹ của người chưa thành niên), quá trình xác minh tài sản của người chưa thành niên phạm tội làm cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường, khó khăn trong việc xác định lỗi của người giám hộ…Do vậy, để tránh những vướng mắc trên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên bổ sung đưa ra những văn bản hướng dẫn cụ thể giúp cho các thẩm phán thuận lợi và thống nhất khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân.

    – Theo Điều 60 BLDS năm 2005 quy định: “người có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ: Đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện giám hộ”. Đối với điều kiện “có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện giám hộ” các văn bản không có hướng dẫn cụ thể. Vậy điều kiện cần thiết là như thế nào? Phải bắt buộc điều kiện về kinh tế, xã hội hay sức khỏe, uy tín…không? Bắt buộc đối với người giám hộ đương nhiên hay giám hộ cử vì nó liên quan đến khả năng bồi thường về tài sản khi người giám hộ của người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại có lỗi. Quy định như vậy là rất chung chung. Nếu họ chỉ thỏa mãn những điều kiện là người giám hộ nhưng không có khả năng bồi thường thì sao? Ngoài ra cần quy định rõ và phân biệt mức bồi thường thiệt hại một cách cụ thể hơn giữa trường hợp người chịu trách nhiệm bồi thường là người giám hộ đương nhiên và người giám hộ cử, có như vậy mới động viên, khuyến khích được tinh thần tự nguyện, tự giác, tích cực tham gia và thực hiện việc giám hộ, đảm bảo cho lợi ích của người cần giám hộ và lợi ích chung của xã hội.

      – Trách nhiệm bồi thường do người chưa thành niên vi phạm pháp luật gây thiệt hại không chỉ là trách nhiệm vật chất mà trong nhiều trường hợp còn là xâm phạm các giá trị nhân phẩm. Nếu như có sự xâm phạm các giá trị nhân thân thì pháp luật sẽ bảo vệ người bị xâm hại như thế nào? Quan hệ tài sản thì đền bù bằng tiền ngang giá. Còn xâm phạm các giá trị nhân thân thì không thể quy ra tiền, chỉ bồi thường bằng cách tự cải chính hoặc yêu cầu người vi phạm xin lỗi, đền bù một khoản tiền để bù đắp những tổn thất về tinh thần. Song Điều 606 BLDS năm 2005 không quy định trách nhiệm cụ thể này thuộc về ai, do vậy trong thực tế có trường hợp người chưa thành niên gây thiệt hại về tinh thần khi họ thực hiện các chế tài trên người bị hại đã không chấp nhận và đó là lời xin lỗi của trẻ con không có giá trị, yêu cầu những người có trách nhiệm với người chưa thành niên đó (cha mẹ, người giám hộ) phải công khai xin lỗi. Yêu cầu đòi hỏi như vậy xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý, họ thường không có ý thức trách nhiệm về lời xin lỗi của mình song nếu trách nhiệm đó thuộc về cha mẹ hoặc người giám hộ của họ thì sẽ giúp cha mẹ, người giám hộ nhận thức rõ hơn thiếu sót của mình trong việc giáo dục quản lý người chưa thành niên, giúp người bị hại phần nào giảm đi những ảnh hưởng về tinh thần do những chưa thành niên gây ra. Thiệt hại về tinh thần tạo ra những vết hằn tâm lý sâu sắc, khó phai mờ trong ký ức của người bị hại, nhiều trường hợp làm đảo lộn đời sống tâm lý cũng như cuộc sống của người bị hại. Đây cũng là một vướng mắc và thiếu sót mà BLDS và các văn bản liên quan không đề cập đến. Vì vậy, nên bổ sung một điểm trong Điều 606 BLDS năm 2005 như sau: “nếu thiệt hại về tinh thần do người dưới 15 tuổi gây ra thì trách nhiệm công khai xin lỗi, cải chính thuộc về cha, mẹ hoặc người giám hộ nếu người giám hộ có lỗi”.

2.2.                Tuyên truyền giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức của nhân dân

  Nâng cao hiểu biết về pháp luật của người dân nói chung và của các cán bộ, công chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại thông qua việc đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp giúp mỗi người luật. Qua đó giúp mỗi người ý thức được hơn trách nhiệm của mình đối với chính các quyền dân sự gắn với bản thân, đối với các quyền dân sự của người khác và đối với lợi ích chung của xã hội.

KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Trong đời sống hàng ngày thiệt hại xảy ra do hành vi gây thiệt hại tương đối nhiều (ví dụ thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra, thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, thiệt hại do cây cối gây ra…). Những thiệt hại này thường xảy ra bất chợt và có khi không thể biết trước được, vì vậy việc xác định mức độ thiệt hại cũng như xác định chủ thể phải chịu bồi thường thiệt hại cần phải được quy định rõ ràng. Việc xác định mức độ năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân là rất quan trọng nó đảm bảo cho quyền và lợi ích của người bị thiệt hại. Bài phân tích trên phần nào làm sáng tỏ việc xác định ai là người phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại khi có thiệt hại xảy ra. Tuy nhiên dù pháp luật đã quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài nhưng trong thực tế vẫn còn nhiều bất cập xảy ra. Vì vậy, vẫn cần có thêm những quy định chi tiết hơn để hướng dẫn thi hành luật đảm bảo cho lợi ích của cả người bị thiệt hại và người gây ra thiệt hại.

About these ads
  1. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 2, Nxb. CAND, Hà Nội, 2009
    2. Lê Đình Nghị (chủ biên), Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2009
    3. Nghị Quyết số 03/2006/NQ – HĐTP ngày 08 tháng 07 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
    4. Phùng Trung Tập; Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Tạp chí Tòa án nhân dân số 5/2004, số 10, tr 2 – 5)
    5. Bộ luật dân sự 2005
    6. Nguyễn Minh Tuấn: Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người từ đủa 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây ra (Tạp chí luật học số 3/2002, tr 53 – 59)
    7. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
    8. “Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân” – Luận án thạc sĩ – Nguyễn Minh Thư
    9. http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com

  1. No trackbacks yet.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: